Chuyển hóa sáng kiến thành dự án đầu tư hiệu quả
Kho báu thầm lặng của biển
Giá trị carbon xanh dương cũng cao hơn so với hầu hết các loại carbon khác do sự cộng hưởng những lợi ích to lớn đi kèm, đặc biệt trong bảo vệ đa dạng sinh học biển, giúp tái tạo nguồn lợi thủy sản và giữ vững sinh kế cho cộng đồng dân cư ven biển. Theo Ngân hàng Thế giới, việc cô lập và lưu trữ carbon xanh ven biển được định giá lên tới 190 tỷ USD mỗi năm.
Việt Nam sở hữu đường bờ biển dài hơn 3.200 km và vùng đặc quyền kinh tế rộng trên 1 triệu km². Đó là tiềm năng carbon xanh dương vô cùng lớn. PGS.TS. Lưu Thế Anh, Viện trưởng Viện Tài nguyên và Môi trường (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho biết: Những bể chứa carbon xanh dương chính là cây rừng ngập mặn, hệ sinh thái cỏ biển, rạn san hô, các phiêu sinh thực vật - là những loài tảo, thực vật biển có diệp lục. Đây là những nguồn tín chỉ carbon tiềm năng, nhưng để hiện thực hóa giá trị này đòi hỏi điều kiện tiên quyết: bảo vệ hệ sinh thái và đa dạng sinh học biển.
Dưới góc độ nghiên cứu từ thực tiễn, TS. Trịnh Thái Hà, Quản lý Ban thư ký Chương trình Đối tác Hành động carbon xanh dương (NBCAP) thuộc Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) Việt Nam, việc triển khai NBCAP tại Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng về hoàn thiện bộ máy tổ chức và thể chế, cũng như xây dựng các báo cáo nền tảng và lộ trình đồng thời tiến hành nhiều hoạt động đối thoại chính sách và hợp tác kỹ thuật. Tuy nhiên, các sáng kiến về rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, bãi triều… hiện còn bị chia cắt giữa nhiều chương trình, lĩnh vực và cơ quan quản lý khác nhau. Việc chuyển hóa từ ý tưởng bảo tồn thành dự án thực tế có khả năng thu hút vốn đầu tư từ khu vực tư nhân còn khó khăn, đồng thời thiếu những cơ chế tài chính phù hợp và năng lực chuẩn bị dự án quy mô lớn để kết nối với các định chế tài chính toàn cầu.

Xây dựng danh mục các dự án tiềm năng, phân loại theo mức độ sẵn sàng đầu tư để kết nối các nguồn lực tài chính
Tính toán rõ chi phí, tránh phụ thuộc viện trợ
Cùng chung nhận định này, đại diện Cục Biển và Hải đảo Việt Nam cũng nhấn mạnh, nguồn lực tài chính được xem là một trong những thách thức lớn đối với việc triển khai lộ trình. Dù xu hướng hiện nay đều nhấn mạnh nguồn tài chính cho các hoạt động khí hậu cần có sự tham gia của Nhà nước, nhưng việc bố trí và phê duyệt các nguồn lực tài chính cụ thể vẫn là vấn đề cần được giải quyết. Cùng với nguồn lực trong nước, các đối tác quốc tế cũng có những cam kết cụ thể hơn về tài chính, tổ chức thực hiện và quy mô hỗ trợ, ví dụ như xác định rõ tổ chức quốc tế nào tham gia, cam kết bao nhiêu và hỗ trợ theo phương thức nào.
Những thách thức này cũng đặt ra nhiều thử thách hơn cho các dự định mới. Mới đây, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với UNDP tại Việt Nam họp Nhóm công tác triển khai NBCAP Việt Nam lần thứ hai, trong đó thảo luận Dự thảo Lộ trình hành động quốc gia về carbon xanh dương giai đoạn 2026 – 2030. Dự thảo đặt ra tầm nhìn đến năm 2030, các hệ sinh thái carbon xanh dương của Việt Nam được quản lý thống nhất trên nền tảng pháp lý và dữ liệu đầy đủ, được ghi nhận trong kiểm kê khí nhà kính quốc gia và Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), đồng thời trở thành nguồn lực tài chính bền vững, mang lại lợi ích công bằng cho cộng đồng ven biển; định hướng đến năm 2050 đóng góp vào mục tiêu phát thải ròng bằng 0.
Dưới góc độ doanh nghiệp, bà Lê Gia Thanh Trúc, chuyên gia thị trường carbon, phụ trách kết nối cơ hội hợp tác phát triển tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Công ty Karbon-X cho biết, việc triển khai các dự án carbon xanh dương là câu chuyện của nhiều bên có thể tham gia và hưởng lợi. Các dự án này sẽ giúp luân chuyển các dòng vốn liên quan đến tài chính xanh, từ ngân hàng, tổ chức liên quan, hoặc từ khối tư nhân. Tuy nhiên, chi phí đầu tư cũng rất lớn. Để thu hút đầu tư vào dự án, trước hết cần một lộ trình từ chính sách đến sự tham gia của các bên với vai trò, trách nhiệm. Qua đó, các nhà đầu tư nước ngoài có thể nắm được rõ những thông tin và lộ trình phát triển khi có định hướng đầu tư dài hạn cho những dự án carbon ở Việt Nam và khu vực. Cùng với đó, cấu trúc về vốn và cấu trúc của một dự án liên quan đến cộng đồng, cũng như những chi phí cho dự án sẽ cần phải làm rõ để có thể có được một dự án khả thi cả về mặt kỹ thuật và mặt kinh tế.
Theo các chuyên gia, cần xác lập tính rõ ràng về pháp lý trước khi tìm kiếm nguồn vốn. Từ kinh nghiệm quốc tế, để thu hút nhà đầu tư và các đối tác tài chính quốc tế, Việt Nam cần giải quyết một số câu hỏi trọng tâm như xây dựng các dự án giai đoạn đầu đã tính toán rõ chi phí, tránh phụ thuộc hoàn toàn vào viện trợ bằng cách kết hợp nhiều nguồn vốn và kênh vốn thường trực, minh định quyền sở hữu tín chỉ trước khi tham gia giao dịch và ươm tạo ở quy mô nhỏ trước khi mở rộng bộ máy quản trị và nguồn vốn.
Tuy nhiên, để chuyển từ định hướng sang dự án thực tế, trước hết cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý và cơ chế phối hợp. Các hệ sinh thái carbon xanh dương liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực và cấp quản lý, vì vậy việc xác định rõ đầu mối, trách nhiệm và phương thức phối hợp là điều kiện quan trọng để tránh tình trạng các sáng kiến bị phân tán giữa nhiều chương trình, cơ quan.
Ngoài ra, bài toán đầu tư đòi hỏi sự cân bằng giữa mục tiêu bảo tồn, lợi ích kinh tế và sinh kế của cộng đồng ven biển. Một dự án muốn thu hút vốn không chỉ cần tiềm năng hấp thụ carbon mà còn phải có dữ liệu đáng tin cậy, phương pháp MRV phù hợp, cơ chế chia sẻ lợi ích và khả năng quản trị rủi ro. Việc xây dựng danh mục các dự án tiềm năng, phân loại theo mức độ sẵn sàng đầu tư vì thế trở thành yếu tố quan trọng để kết nối sáng kiến với nhà đầu tư và các nguồn tài chính khác.
Võ Giang
5 giờ trước
2 ngày trước
5 ngày trước
5 ngày trước
5 ngày trước
8 ngày trước
10 ngày trước
11 ngày trước
12 ngày trước
12 ngày trước
12 ngày trước
12 ngày trước
12 ngày trước
13 ngày trước
25 ngày trước
26 ngày trước
27 ngày trước
1 tháng trước
1 tháng trước
1 tháng trước
1 tháng trước
1 tháng trước
2 tháng trước
2 tháng trước
2 tháng trước
4 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước