🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Chủ động xây dựng kịch bản ứng phó với tác động từ xung đột tại Trung Đông

7 giờ trước
Theo TS. Nguyễn Sơn - giảng viên ngành quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam, để giảm thiểu tác động từ xung đột tại Trung Đông, doanh nghiệp Việt cần chủ động rà soát hợp đồng quốc tế, đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu, điều chỉnh chiến lược logistics và xây dựng kịch bản ứng phó nếu xung đột kéo dài.

PV: Thưa ông, với một nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam, những tác động lan tỏa từ xung đột tại Trung Đông có thể truyền dẫn tới doanh nghiệp trong nước thông qua những kênh nào?

TS. Nguyễn Sơn

TS. Nguyễn Sơn: Trước hết, kênh năng lượng và chuỗi cung ứng nguyên vật liệu chịu tác động kép, trực tiếp và tức thời. Dầu mỏ đóng vai trò kép trong nền kinh tế sản xuất của Việt Nam: vừa là nhiên liệu vận hành nhà máy và logistics nội địa, vừa là nguyên liệu đầu vào của toàn bộ chuỗi hóa chất công nghiệp. Khi giá dầu tăng, chi phí sản xuất tăng theo đồng thời từ hai phía.

Ví dụ, ngành dệt may và da giày sẽ chịu ảnh hưởng từ giá đầu vào như sợi polyester, nylon, cao su tổng hợp, keo dán và thuốc nhuộm (đều từ quá trình phân tách dầu thô), khiến chi phí nguyên liệu leo thang song song với chi phí năng lượng vận hành. Ngành nông nghiệp và thủy sản xuất khẩu chịu áp lực qua giá phân bón, vì khí tự nhiên là nguyên liệu sản xuất đạm urea và ammonia.

Ngành điện tử cũng có thể bị ảnh hưởng, ví dụ nhựa epoxy trong bản mạch, dung môi làm sạch và flux hàn vi mạch đều là sản phẩm hóa dầu. Toàn bộ ngành bao bì nhựa phục vụ đóng gói xuất khẩu cũng tăng chi phí theo. Đây là cơ chế “lạm phát chi phí đẩy” lan rộng qua toàn bộ cấu trúc sản xuất, chứ không chỉ là bài toán giá xăng và nhiên liệu đơn thuần.

Kênh tài chính và tỷ giá cũng chịu tác động hai chiều và cần phân tích thận trọng. Trong bối cảnh bất ổn, USD và vàng có xu hướng mạnh lên khi nhà đầu tư tìm kiếm tài sản trú ẩn an toàn. Điều này có thể mang lại lợi thế nhất định cho doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam khi biên lợi nhuận tính bằng tiền đồng có thể cải thiện. Tuy nhiên, tác động ngược chiều về chi phí nguyên vật liệu nhập khẩu sẽ tăng và nghĩa vụ trả nợ nước ngoài bằng USD cũng nặng nề hơn.

Ở tầm vĩ mô, nếu Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục giữ lãi suất cao do lo ngại lạm phát, thì dòng vốn đầu tư danh mục có xu hướng rút khỏi các thị trường mới nổi. Điều này có thể tạo áp lực lên thị trường trái phiếu và cổ phiếu Việt Nam, làm tăng chi phí vay vốn quốc tế cho doanh nghiệp lớn có sử dụng đòn bẩy tài chính ngoại tệ.

Ở kênh vận tải và logistics, tác động không đồng đều và phân hóa rõ. Xuất khẩu sang EU bị ảnh hưởng nặng nhất: tuyến Á - Âu qua Biển Đỏ và kênh Suez hiện đóng cửa, hàng phải vòng qua mũi Hảo Vọng, kéo dài và chịu phụ phí.

Với tuyến đi Mỹ, hàng đi bờ Tây (USWC) chủ yếu qua tuyến xuyên Thái Bình Dương, trước mắt không bị ảnh hưởng bởi xung đột. Tuy nhiên, hàng đến bờ Đông (USEC) phức tạp hơn. Điểm then chốt là đội tàu Việt Nam chỉ đảm nhận khoảng 10% vận tải quốc tế, toàn bộ tuyến dài phụ thuộc hãng tàu nước ngoài, khiến doanh nghiệp bị động về giá cước và lịch tàu khi tình hình biến động.

Một tác động nữa là kênh thị trường và nhu cầu. Nếu xung đột kéo dài và giá dầu vượt 100 USD/thùng, châu Âu, vốn đang chịu khủng hoảng khí đốt, có nguy cơ rơi vào suy thoái. Sức mua giảm tại EU, kể cả Mỹ và các thị trường phát triển, sẽ kéo theo nhu cầu nhập khẩu hàng hóa Việt Nam đi xuống. Đây là kênh tác động chậm nhưng có tính lan tỏa rộng, kéo dài và khó đoán nhất.

Doanh nghiệp Việt cần chủ động để đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu, ứng phó nếu xung đột tại Trung Đông kéo dài. Ảnh: Đức Thanh

PV: Rủi ro gia tăng trên các tuyến hàng hải quan trọng kết nối châu Á - châu Âu ảnh hưởng thế nào tới chi phí vận tải, thời gian giao hàng và hợp đồng xuất nhập khẩu của doanh nghiệp Việt Nam, thưa ông?

TS. Nguyễn Sơn: Không phải toàn bộ doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam đều chịu ảnh hưởng như nhau. Doanh nghiệp xuất sang Mỹ có thể linh hoạt hơn: hàng đi bờ Tây vẫn dùng tuyến xuyên Thái Bình Dương qua Biển Đông. Hàng đi bờ Đông có thêm lựa chọn qua kênh Panama hoặc mũi Hảo Vọng. Trong khi đó, xuất khẩu sang EU chịu tác động kép, như tôi đề cập ở trên.

Tuy nhiên, thay vì chỉ nhìn vào áp lực chi phí, doanh nghiệp Việt Nam cần nhận ra rằng, tình huống này tạo ra cơ hội với đối tác EU. Đồng thời đối mặt với khủng hoảng năng lượng và suy giảm trong quan hệ với Mỹ, EU đang tích cực tìm kiếm đối tác thương mại ổn định. Doanh nghiệp Việt có thể chủ động đề xuất điều chỉnh hợp đồng, tận dụng EVFTA để đàm phán ưu đãi dài hạn đổi lấy cam kết cung ứng ổn định.

Về nguyên tắc pháp lý, chiến tranh và lệnh cấm vận chuyển của chính phủ là sự kiện bất khả kháng được công nhận rộng rãi theo luật thương mại quốc tế. Tuy nhiên, có hai lớp rủi ro cần lưu ý.

Thứ nhất, khá nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam thiếu kinh nghiệm khi làm hợp đồng mua bán quốc tế, ví dụ điều khoản "force majeure" (bất khả kháng), bao gồm gián đoạn logistics do chính sách của chính phủ nước thứ ba, dễ dẫn đến tranh chấp và thiệt thòi khi rủi ro thực sự xảy ra.

Thứ hai, bảo vệ pháp lý không đồng nghĩa với bảo vệ về thực tế các giao dịch thương mại: bên mua từ EU hoặc Mỹ vẫn có thể dùng việc chậm giao hàng (khó khăn logistics) làm lý do để hủy đơn hay ép giảm giá.

Vì vậy, doanh nghiệp Việt cần rà soát ngay hợp đồng hiện có, bổ sung, làm rõ điều khoản liên quan, cân nhắc kỹ Incoterms (điều khoản thương mại quốc tế) được áp dụng nhằm phân chia rủi ro hợp lý hơn.

PV: Theo ông, doanh nghiệp logistics và xuất khẩu của Việt Nam cần chuẩn bị kịch bản ứng phó thế nào nếu xung đột tại Trung Đông kéo dài?

TS. Nguyễn Sơn: Kịch bản thực tế nhất là xung đột có thể kéo dài 2 - 4 tháng, với nhiều mức độ leo thang khác nhau, doanh nghiệp cần có sự chuẩn bị tương ứng.

Nếu xung đột trong ngắn hạn, Hormuz có thể sẽ mở cửa trở lại trong vòng 2 tháng, giá dầu hạ về dưới 80 USD, tuyến Biển Đỏ quay lại khi Houthi mất nguồn tiếp tế từ Iran. Mức dự trữ dầu thô trong nước và các nguồn cung khác đảm bảo vượt qua giai đoạn hiện nay. Ứng phó ưu tiên trong kịch bản này là quản lý ngắn hạn: khai báo "force majeure" với đối tác bị ảnh hưởng, bổ sung phụ phí vận tải, theo dõi sát thị trường vận tải và giải quyết lại các bài toán tối ưu về sản xuất, không vội vàng ký hợp đồng dài hạn với giá cước vận tải cao khi thị trường chưa ổn định.

Nếu xung đột trung hạn leo thang, Hormuz đóng cửa kéo dài đẩy giá dầu lên hoặc vượt ngưỡng 100 USD/thùng, nguồn dầu thô cho công nghiệp lọc hóa dầu gián đoạn nếu nguồn thay thế hạn chế, chi phí nguyên vật liệu hóa dầu tăng mạnh, lạm phát trong nước có thể là một vấn đề kéo theo. Kế hoạch ứng phó đòi hỏi tìm nguồn dầu thô thay thế tương thích, kích hoạt dự trữ chiến lược có kiểm soát theo thứ tự ưu tiên; cùng với các nhà cung cấp dịch vụ logistics xác định lại kế hoạch vận tải tối ưu; đàm phán lại điều khoản hợp đồng theo hướng chia sẻ rủi ro với đối tác.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp nên lập danh sách nguyên vật liệu chiến lược theo mức độ phụ thuộc vào khu vực Trung Đông, chủ động tiếp cận nhà cung cấp thay thế ngay trong giai đoạn này, không đợi đến khi đứt gãy xảy ra.

PV: Xin cảm ơn ông!

Luyện Vũ

TIN LIÊN QUAN


























Home Icon VỀ TRANG CHỦ