🔍
Chuyên mục: Lao động - Việc làm

Chính sách dân số cần bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng cho phụ nữ và trẻ em gái

11 giờ trước
Tại cuộc họp góp ý Dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Dân số, nhiều ý kiến tập trung đề xuất hoàn thiện chính sách theo hướng đồng bộ, khả thi và phù hợp với bối cảnh dân số hiện nay, đặc biệt gắn với mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Ảnh minh họa

Trao đổi với PV Báo Phụ nữ Việt Nam, PGS.TS. Lưu Bích Ngọc, Chánh Văn phòng Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực, Bộ Giáo dục và Đào tạo, đã đưa ra nhiều ý kiến thẳng thắn nhằm hoàn thiện chính sách. Theo đó, Dự thảo cần làm rõ định hướng tổng thể, bảo đảm tính đồng bộ giữa các lĩnh vực như giáo dục, y tế, lao động và an sinh xã hội, đồng thời gắn với mục tiêu nâng cao chất lượng dân số.

Bên cạnh đó, là yêu cầu tăng tính khả thi của chính sách thông qua quy định cụ thể về đối tượng, điều kiện áp dụng và nguồn lực thực hiện, tránh chung chung, khó triển khai. Theo bà, Dự thảo Nghị định lần này đã có sự tiếp thu, chỉnh sửa so với các phiên bản trước. Tuy nhiên, để văn bản thực sự đi vào cuộc sống, cần tiếp tục rà soát, làm rõ hơn về cách tiếp cận và phạm vi điều chỉnh, đặc biệt trong bối cảnh công tác dân số đã chuyển đổi mục tiêu từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển.

Tăng tính liên ngành trong chính sách dân số

Một trong những vấn đề được bà Bích Ngọc nhấn mạnh là Dự thảo hiện chưa thể hiện rõ quan điểm xây dựng Nghị định. Theo bà, đây không chỉ là văn bản kỹ thuật mà còn là công cụ để cụ thể hóa các định hướng lớn của Đảng và Nhà nước về dân số, do đó cần xác định rõ vai trò điều phối tổng thể của Chính phủ.

"Dân số không còn là câu chuyện riêng của ngành y tế mà liên quan chặt chẽ đến giáo dục, lao động, việc làm, an sinh xã hội và phát triển nguồn nhân lực. Vì vậy, nếu Dự thảo vẫn thiên về quy định trách nhiệm của ngành y tế thì sẽ khó tạo ra chuyển biến toàn diện", bà Bích Ngọc bày tỏ.

Bà cho rằng, nhiều nội dung trong Dự thảo hiện vẫn mang tính định hướng, chưa cụ thể hóa thành các giải pháp đủ mạnh và khả thi. Các chính sách khuyến khích sinh, hỗ trợ trẻ em, phụ nữ giúp giảm nguy cơ mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh, giáo dục dân số hay phát triển nguồn nhân lực cần được thiết kế rõ ràng hơn, có cơ chế triển khai cụ thể và gắn với nguồn lực thực hiện.

Đặc biệt, trong bối cảnh mức sinh biến động theo chiều hướng suy giảm và xuất hiện sự chênh lệch giữa các vùng, việc xây dựng chính sách về điều tiết mức sinh cần dựa trên các bằng chứng thực tiễn và kinh nghiệm quốc tế. Theo bà, cần có phần giải trình rõ ràng hơn trong tờ trình về lý do lựa chọn các mức hỗ trợ khi bà mẹ sinh con, phạm vi áp dụng cũng như lộ trình điều chỉnh trong tương lai.

PGS.TS. Lưu Bích Ngọc, Chánh Văn phòng Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực, Bộ Giáo dục và Đào tạo

Bên cạnh đó, bà cũng lưu ý đến yếu tố bình đẳng giới trong sinh con. Chính sách dân số không chỉ dừng ở việc khuyến khích sinh đủ 2 con mà còn cần góp phần thay đổi nhận thức xã hội, xóa bỏ tư tưởng trọng nam, bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng cho phụ nữ và trẻ em gái.

Về cơ chế tài chính, bà đề nghị cần mở rộng cách tiếp cận, không chỉ dừng ở việc hỗ trợ, chi trả trực tiếp cho cá nhân. Thay vào đó, có thể nghiên cứu phương thức chi trả thông qua các cơ sở cung cấp dịch vụ, đặc biệt trong các hoạt động tầm soát trước sinh và sơ sinh. Cách làm này vừa giảm áp lực thủ tục hành chính, vừa bảo đảm kiểm soát chất lượng dịch vụ.

Ngoài ra, đối với những địa phương có điều kiện ngân sách tốt, cần cho phép chủ động nâng mức hỗ trợ, tạo sự linh hoạt trong triển khai chính sách. Việc phân cấp, trao quyền đi kèm với cơ chế giám sát sẽ giúp chính sách phù hợp hơn với thực tiễn từng vùng.

Phát huy vai trò người cao tuổi

Một nội dung quan trọng khác được bà Bích Ngọc phân tích sâu là vấn đề già hóa dân số. Dự thảo Nghị định hiện vẫn chưa bám sát tinh thần "thích ứng với già hóa dân số" mà chủ yếu tập trung vào khía cạnh chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi.

Bà cho rằng, cách tiếp cận này là chưa đầy đủ. Người cao tuổi không chỉ là đối tượng cần được chăm sóc sức khỏe mà còn là nguồn lực quan trọng của xã hội. Vì vậy, chính sách cần hướng tới mục tiêu toàn diện hơn: Giúp người cao tuổi "sống vui, sống khỏe, sống có ích".

Trong Dự thảo, các quy định về hoạt động văn hóa, thể thao, học tập suốt đời hay tham gia lao động phù hợp của người cao tuổi còn rất hạn chế. Thậm chí, có những nội dung mới chỉ dừng lại ở mức liệt kê chung chung, chưa tạo thành một hệ thống giải pháp cụ thể.

Bà cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải phân nhóm người cao tuổi. Đặc biệt, nhóm từ 60 đến dưới 70 tuổi hiện vẫn có khả năng lao động, tích lũy kinh nghiệm và đóng góp cho xã hội. Trong bối cảnh Việt Nam đang điều chỉnh tuổi nghỉ hưu và đối mặt với nguy cơ thiếu hụt lao động trong tương lai, việc tận dụng nguồn lực này là rất quan trọng.

"Nếu chỉ coi người từ 60 tuổi trở lên là đối tượng cần trợ giúp thì sẽ lãng phí một nguồn lực lớn cho phát triển kinh tế – xã hội", bà Bích Ngọc nhận định.

Không chỉ chăm sóc mà còn cần phát huy vai trò người cao tuổi

Liên quan đến mô hình chăm sóc, bà đề nghị cần làm rõ các khái niệm như "điểm chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng". Đây cần được xác định là một thiết chế cụ thể, có chức năng, nhiệm vụ rõ ràng, hay chỉ là địa điểm hỗ trợ mang tính linh hoạt. Việc thiếu định nghĩa rõ ràng sẽ dẫn đến lúng túng trong tổ chức thực hiện tại cơ sở.

Bên cạnh đó, các nội dung về chăm sóc tại nhà, chăm sóc cộng đồng, vai trò của chính quyền cơ sở và sự tham gia của gia đình, xã hội cũng cần được quy định rõ hơn. Theo bà, cần huy động đa dạng nguồn lực, từ Nhà nước, cộng đồng đến khu vực tư nhân, để xây dựng hệ thống chăm sóc người cao tuổi bền vững.

Một điểm đáng chú ý khác là việc Dự thảo hiện chưa thể hiện rõ các nội dung liên quan đến học tập suốt đời, nâng cao kỹ năng, tạo việc làm phù hợp cho người cao tuổi. Đây cũng chính là nội hàm của khái niệm chăm sóc về trí tuệ, chăm sóc về tinh thần cho người cao tuổi, là những yếu tố quan trọng giúp người cao tuổi duy trì chất lượng cuộc sống và tiếp tục đóng góp cho xã hội.

Ngoài ra, bà cũng đề cập đến yêu cầu phải bảo đảm tính thống nhất giữa Nghị định và các quy định trong luật hiện hành. Những nội dung đã được quy định rõ trong luật cần được cụ thể hóa phương thức triển khai, không nên tách rời hoặc diễn giải theo hướng thu hẹp phạm vi.

Theo bà Bích Ngọc nếu được hoàn thiện theo hướng rõ quan điểm, tăng tính liên ngành, chú trọng yếu tố con người và thích ứng với già hóa dân số, Nghị định sẽ trở thành công cụ quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng dân số và thúc đẩy phát triển bền vững trong giai đoạn tới.

Bài, ảnh: Thành Nam

TIN LIÊN QUAN





























Home Icon VỀ TRANG CHỦ