Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954-Ý nghĩa lịch sử và tầm vóc thời đại

Bộ đội kéo pháo vào lần 2, chuẩn bị tác chiến theo phương án đánh chắc, tiến chắc. Ảnh: Tư liệu
Cuộc đọ sức thần kỳ giữa một dân tộc nhỏ bé với cường quốc thực dân
Chiến thắng Điện Biên Phủ là đỉnh cao của cuộc tiến công chiến lược Đông-Xuân 1953-1954, là đòn quyết định kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Đây là trận quyết chiến chiến lược mà thực dân Pháp, với sự tiếp sức mạnh mẽ từ đế quốc Mỹ, đã dồn mọi nỗ lực quân sự cao nhất để xây dựng một “pháo đài bất khả xâm phạm” và tin chắc “sẽ gây cho Việt Minh một thất bại nghiêm trọng”. Trước khi ta tiến công, tại lòng chảo Điện Biên Phủ, thực dân Pháp đã tập trung những đơn vị tinh nhuệ nhất. Lực lượng này được tổ chức thành 49 cứ điểm, nằm trong 8 cụm cứ điểm liên hoàn, chia làm 3 phân khu với hệ thống hỏa lực mạnh[1].
Với quyết tâm giành toàn thắng, Việt Nam đã huy động lực lượng bộ đội và dân công phục vụ rất lớn, lúc cao nhất lên đến 86.800 người, gồm 53.800 quân và 33.000 dân công, thanh niên xung phong phục vụ hỏa tuyến. Chỉ tính riêng về lương thực, bình quân phải sử dụng khoảng 90 tấn mỗi ngày để bảo đảm cho các lực lượng từ Sơn La trở vào, ngay tại Điện Biên Phủ phải có khoảng 50 tấn, tức là mỗi ngày phải có trên 3.000 dân công hỏa tuyến luồn rừng, leo núi đưa gạo và các loại thực phẩm đến từng trận địa. Khối lượng bảo đảm cho chiến dịch cũng đạt mức cao nhất, bao gồm 20.125 tấn, gấp 2 lần Chiến dịch Tây Bắc (năm 1952). Trong tổng số vật chất này, số gạo tiêu thụ là 14.950 tấn (gấp 9 lần so với Chiến dịch Biên giới năm 1950, gấp 2 lần Chiến dịch Hòa Bình năm 1951-1952). Riêng đạn và xăng dầu là những loại vật chất kỹ thuật chủ yếu đã lên tới gần 3.000 tấn, chiếm tỷ lệ 14,2% tổng số vật chất.
So sánh về đạn của Chiến dịch Điện Biên Phủ thì số lượng bảo đảm gấp 7,5 lần Chiến dịch Hà-Nam-Ninh (năm 1951), gấp 3,4 lần Chiến dịch Hòa Bình, gấp 6 lần Chiến dịch Tây Bắc và 10 lần Chiến dịch Thượng Lào (năm 1953). Về bảo đảm quân y, kết thúc chiến dịch, ngành quân y đã cứu chữa 10.130 thương binh, trong đó, riêng mặt trận Điện Biên Phủ là 8.500 thương binh, chiếm tỷ lệ 15,7% quân số tham chiến, một tỷ lệ cao nhất so với các chiến dịch của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng thời tổ chức cứu chữa 1.487 sĩ quan và binh sĩ địch bị thương[2].
Đối diện với bộ máy chiến tranh khổng lồ của thực dân Pháp và sự can thiệp của đế quốc Mỹ là một dân tộc vừa giành được độc lập chưa lâu, kinh tế còn nghèo nàn, lạc hậu. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau 56 ngày đêm chiến đấu gian khổ “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt”, ta đã tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, loại khỏi vòng chiến đấu 16.200 quân, gồm 17 tiểu đoàn bộ binh và lính dù, 3 tiểu đoàn pháo binh, 10 đại đội người Việt vừa bổ sung và các đơn vị công binh, vận tải, xe tăng... Tổng số sĩ quan và hạ sĩ quan bị diệt và bắt là 1.706 (1 thiếu tướng, 16 đại tá và trung tá, 353 sĩ quan từ thiếu úy đến thiếu tá); 62 máy bay bị bắn rơi. Ta đã thu toàn bộ vũ khí, kho tàng của địch ở Điện Biên Phủ, trong đó có 28 pháo lớn, 64 xe, 5.915 súng các loại, 20 nghìn lít xăng dầu cùng nhiều đạn dược, quân trang, quân dụng[3].
“Cột mốc vàng” mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ
Cho đến cuối tháng 4/1954, khi nguy cơ thất bại của viên tướng De Castries không còn nghi ngờ gì nữa, những người lãnh đạo Pháp lại thúc giục Mỹ tiến hành yểm trợ bằng không quân, đánh phá các căn cứ hậu cần và các con đường tiếp tế của kháng chiến. Ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles cùng Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, Đô đốc Radford đi đến kết luận là không còn hy vọng cứu vãn Điện Biên Phủ nữa, nhưng vẫn đề nghị không quân Hoàng gia Anh phối hợp can thiệp vào Điện Biên Phủ.

Bộ Chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ ra hàng. Ảnh: Tư liệu
Tuy nhiên, nước Anh đã kiên quyết từ chối với lời tuyên bố của Thủ tướng Churchill trong phiên họp khẩn cấp của Nội các: “Cái mà họ yêu cầu chúng ta tiến hành là giúp họ vào việc lừa dối để Quốc hội (Mỹ) tán thành một hoạt động quân sự, bản thân nó không có tác dụng mà lại có thể đẩy lùi thế giới vào miệng hố chiến tranh to lớn”[4]. Kết cục thực dân Pháp thất bại tại Điện Biên Phủ, buộc phải ký Hiệp định Genève ngày 21/7/1954, công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Đông Dương: Việt Nam, Lào và Campuchia. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, quân đội của một nước thuộc địa ở châu Á đánh thắng quân đội của một cường quốc thực dân phương Tây trong một trận quyết chiến chiến lược.
Chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ có ý nghĩa đối với Việt Nam, mà còn mang tầm vóc quốc tế sâu sắc, báo hiệu “buổi chiều tàn” của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn cầu. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã, đồng thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn”[5]. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã thức tỉnh và cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh; chứng minh một chân lý thời đại: Một dân tộc nhỏ yếu, nếu biết đoàn kết, có đường lối đúng đắn và quyết tâm chiến đấu vì độc lập, tự do thì hoàn toàn có thể đánh bại những thế lực xâm lược hùng mạnh.
Ảnh hưởng của Điện Biên Phủ đã tạo ra một “phản ứng dây chuyền” trong hệ thống thuộc địa. Từ năm 1954 đến năm 1964, có tới 17 trong tổng số 22 thuộc địa của Pháp giành được độc lập. Đặc biệt, chỉ riêng trong năm 1960, được gọi là “Năm châu Phi”, đã có 17 quốc gia tại lục địa này tuyên bố độc lập. Tại Algeria, tinh thần Điện Biên Phủ đã thôi thúc nhân dân nước này đứng lên khởi nghĩa ngay sau đó, buộc Pháp phải trao trả độc lập vào năm 1962, chấm dứt 132 năm đô hộ.
Có thể khẳng định, cho đến nay và nhiều năm sau nữa, “tiếng sấm Điện Biên Phủ” vẫn còn vang vọng, biểu tượng của trí tuệ, bản lĩnh và lòng dũng cảm của con người Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Chiến thắng này không chỉ thuộc về nhân dân Việt Nam mà đã trở thành tài sản chung của nhân loại tiến bộ, là nguồn cảm hứng bất tận cho những dân tộc khao khát độc lập, tự do và công lý trên toàn thế giới.
[1] Bộ Quốc phòng-Cục Khoa học quân sự, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, quyển 1: Lịch sử quân sự, Mục từ: Chiến dịch Điện Biên Phủ (13.3-7.5.1954).
[2] Tổng cục Hậu cần Quân đội Nhân dân Việt Nam, Hậu cần chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, H, 1994, trang 121.
[3] Bộ Quốc phòng-Cục Khoa học quân sự, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, quyển 1: Lịch sử quân sự, Mục từ: Chiến dịch Điện Biên Phủ (13.3-7.5.1954).
[4] Pitơ A Pulơ, Nước Mỹ và Đông Dương từ Rudơven đến Níchxơn, Nhà xuất bản Thông tin Lý luận, H, 1986, trang 48.
[5] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 14 (1963-1965), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, trang 315.
Nguyên Vũ
1 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
1 giờ trước
11 phút trước
15 phút trước
29 phút trước
36 phút trước
40 phút trước
47 phút trước