Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tháng 3/2026

Bảo đảm cung ứng xăng dầu cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của người dân, doanh nghiệp
Để tập trung thực hiện các giải pháp bảo đảm cung ứng đủ xăng dầu cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của người dân, doanh nghiệp, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, ngày 11/3/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Công điện số 22/CĐ-TTg yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan, doanh nghiệp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tập trung triển khai thực hiện nghiêm túc, quyết liệt, kịp thời, đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp được giao tại các Nghị quyết của Chính phủ, các văn bản chỉ đạo, điều hành của Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ về bảo đảm cung ứng xăng dầu và điều hành giá xăng dầu.
Trong đó, Bộ trưởng Bộ Công Thương theo chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền được giao chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về công tác điều hành, bảo đảm cung ứng xăng dầu cho thị trường trong nước:
Theo dõi sát diễn biến thị trường xăng dầu thế giới và trong nước, chủ động đánh giá tình hình cung cầu, dự trữ và hoạt động của hệ thống phân phối xăng dầu để chủ động thực hiện các giải pháp điều hành phù hợp theo thẩm quyền và quy định pháp luật; kịp thời báo cáo đề xuất cấp có thẩm quyền đối với các nội dung vượt thẩm quyền.
Chỉ đạo các thương nhân đầu mối sản xuất, kinh doanh xăng dầu chủ động xây dựng kế hoạch nguồn hàng, bảo đảm cung cấp đầy đủ xăng dầu cho hệ thống phân phối; duy trì hoạt động bán hàng thường xuyên, bán đúng giá niêm yết; theo dõi sát diễn biến thị trường xăng dầu thế giới và trong nước, chủ động có các giải pháp điều hành phù hợp; kịp thời điều tiết nguồn cung giữa các khu vực, địa bàn, bảo đảm chủ động, không để thiếu hụt, đứt gãy nguồn cung xăng dầu, đáp ứng đủ nhu cầu của nền kinh tế và tiêu dùng của xã hội...
Bộ trưởng Bộ Tài chính theo dõi sát tình hình thị trường, phối hợp chặt chẽ với Bộ Công Thương thực hiện điều hành giá xăng dầu theo quy định pháp luật hiện hành; bảo đảm thực hiện mục tiêu bình ổn thị trường, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ cho sản xuất, kinh doanh; tăng cường kiểm tra, giám sát việc trích lập, quản lý và sử dụng Quỹ Bình ổn giá xăng dầu của các thương nhân đầu mối theo đúng quy định của pháp luật.
Giảm thuế nhập khẩu một số mặt hàng xăng dầu về 0%
Chính phủ ban hành Nghị định số 72/2026/NĐ-CP ngày 09/03/2026 sửa đổi mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với một số mặt hàng xăng, dầu, nguyên liệu sản xuất xăng, dầu tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi ban hành kèm theo Nghị định số 26/2023/NĐ-CP ngày 31/5/2023 với mục tiêu giúp doanh nghiệp chủ động nguồn nhập khẩu, góp phần ổn định nguồn cung xăng dầu trong nước.
Nghị định này đã giảm thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi từ 10% xuống 0% đối với xăng động cơ không pha chì (các mã HS 2710.12.21 - Chưa pha chế); 2710.12.22 - Pha chế với ethanol; 2710.12.24 - Chưa pha chế; 2710.12.25 - Pha chế với ethanol) và các nguyên liệu pha chế xăng như naphtha, reformate (mã HS 2710.12.80).
Thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi cũng được giảm từ 7% xuống 0% đối với các mặt hàng nhiên liệu diesel, dầu nhiên liệu, nhiên liệu động cơ máy bay và kerosine.
Ngoài ra, một số nguyên liệu hóa dầu như xylen, condensate, p-xylen được giảm thuế từ 3% xuống 0%, còn hydrocarbon mạch vòng loại khác giảm từ 2% xuống 0%.
Giảm thuế đối với xăng, dầu từ 24 giờ ngày 26/3/2026
Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã ký Quyết định số 482/QĐ-TTg ngày 26/3/2026 về việc áp dụng mức thuế bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng, dầu và nhiên liệu bay trong trường hợp cần thiết vì lợi ích quốc gia.
Theo Quyết định, từ 24 giờ ngày 26/3/2026 đến hết ngày 15/4/2026, mức thuế bảo vệ môi trường đối với xăng (trừ etanol), dầu diezel và nhiên liệu bay là 0 đồng/lít. Xăng, dầu diezel và nhiên liệu bay thuộc đối tượng không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Mức thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng các loại là 0%.
Chi tạm ứng 8.000 tỷ đồng từ nguồn tăng thu NSTƯ cho Quỹ Bình ổn giá xăng dầu
Tại Nghị quyết số 69/NQ-CP ngày 27/3/2026, Chính phủ đã thống nhất chủ trương bổ sung 8.000 tỷ đồng dự toán chi ngân sách nhà nước năm 2026 cho Bộ Công Thương từ nguồn tăng thu ngân sách trung ương năm 2025 để tạm ứng cho Quỹ Bình ổn giá xăng dầu. - Tăng cường thực hiện tiết kiệm năng lượng, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng và phát triển giao thông điện
Ngày 19/3/2026, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký ban hành Chỉ thị 09/CT-TTg yêu cầu Bộ trưởng các bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tập trung triển khai quyết liệt các biện pháp tiết kiệm năng lượng, coi tiết kiệm năng lượng là giải pháp quan trọng nhằm giảm áp lực cung ứng năng lượng trong bối cảnh thị trường năng lượng thế giới biến động; thúc đẩy chuyển đổi sang phương tiện giao thông điện, phát triển hạ tầng sạc và khuyến khích sử dụng nhiên liệu sinh học nhằm giảm phụ thuộc vào xăng dầu nhập khẩu. Tập trung triển khai các giải pháp tiết kiệm năng lượng trong các ngành: thép, xi măng, hóa chất, giấy và bột giấy, bia và nước giải khát, nhựa, dệt may, chế biến thực phẩm…
Phát triển hạ tầng trạm sạc điện; nghiên cứu các cơ chế, chính sách khuyến khích sản xuất và sử dụng xe điện; từng bước chuyển đổi phương tiện giao thông công cộng và phương tiện công vụ sang sử dụng điện; khuyến khích nghiên cứu, phát triển và thí điểm ứng dụng hydrogen, ammonia và các nhiên liệu phát thải thấp trong các lĩnh vực công nghiệp, năng lượng và giao thông vận tải; khuyến khích sử dụng pin lưu trữ (BESS) ở các công suất khác nhau nhằm điều tiết lưới điện, đồng thời khuyến khích điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu, điện gió để giảm áp lực lên hệ thống điện...
Tăng cường thực thi tiết kiệm điện và phát triển điện mặt trời mái nhà
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký ban hành Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 30/3/2026 về việc tăng cường thực thi tiết kiệm điện và phát triển điện mặt trời mái nhà (ĐMTMN). Chỉ thị yêu cầu các bộ, ban, ngành, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các doanh nghiệp, các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân có liên quan thực hiện một số giải pháp sau: Phấn đấu tiết kiệm điện tối thiểu 3,0% tổng điện năng tiêu thụ toàn quốc trong năm 2026; trong các tháng cao điểm nắng nóng (tháng 4, 5, 6, 7), thực hiện tiết kiệm tối thiểu 10% điện năng tiêu thụ. Phấn đấu hàng năm có khoảng 10% cơ quan công sở và 10% hộ gia đình trên cả nước lắp đặt, sử dụng điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ (ĐMTMN); hoặc phấn đấu tổng công suất phát triển đạt 20% công suất lắp đặt ĐMTMN trong kế hoạch phát triển ĐMTMN, giai đoạn 2026 – 2030 của các tỉnh/thành phố. Cơ quan, công sở rà soát, thay thế, loại bỏ các thiết bị tiêu thụ điện hiệu suất thấp; ưu tiên đầu tư, mua sắm thiết bị có hiệu suất năng lượng cao theo quy định; tăng cường ứng dụng công nghệ số trong giám sát, quản lý tiêu thụ điện tại cơ quan, đơn vị. Xây dựng và triển khai kế hoạch tiết kiệm điện đối với hệ thống chiếu sáng công cộng, tắt toàn bộ hệ thống chiếu sáng cho mục đích quảng cáo, trang trí ngoài trời; bảo đảm phấn đấu tối thiểu tiết kiệm 30% tổng điện năng tiêu thụ. Điều chỉnh thời gian vận hành hệ thống chiếu sáng công cộng theo nhu cầu thực tế; thực hiện tắt, giảm công suất chiếu sáng tại các khu vực ít nhu cầu, các khung giờ cao điểm và sau 23h; bảo đảm tiết kiệm điện nhưng vẫn đáp ứng yêu cầu về an toàn giao thông, an ninh trật tự. Các nhà hàng, khách sạn, cơ sở dịch vụ thương mại, tổ hợp văn phòng và tòa nhà chung cư tắt hoặc giảm tối thiểu 50% công suất chiếu sáng quảng cáo trang trí ngoài trời vào cao điểm buổi tối của hệ thống điện theo yêu cầu của đơn vị điện lực tại địa phương; tuân thủ các quy định về chiếu sáng tiết kiệm và hiệu quả…
Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo đẩy mạnh các nhiệm vụ, giải pháp để tiếp tục thúc đẩy xuất khẩu năm 2026
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Công điện số 23/CĐ-TTg ngày 16/03/2026 về một số nhiệm vụ, giải pháp để tiếp tục thúc đẩy xuất khẩu năm 2026.
Bộ Công Thương điều phối, đổi mới hoạt động xúc tiến thương mại theo hướng bám sát thực tiễn thị trường và nhu cầu doanh nghiệp, chú trọng các thị trường trọng điểm, thị trường mới, các thị trường ít bị áp lực bởi xung đột hiện nay; triển khai giải pháp đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, thị trường nhập khẩu.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục triển khai đàm phán mở cửa thị trường, công nhận lẫn nhau về an toàn thực phẩm giúp mở cửa thị trường cho các chủng loại trái cây, rau quả có thế mạnh của Việt Nam. Phối hợp với các hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp tập trung liên kết chặt chẽ các vùng nguyên liệu, đẩy mạnh bảo quản, chế biến, nhất là chế biến sâu để nâng cao giá trị gia tăng xuất khẩu...
Hướng dẫn khai thuế, nộp thuế GTGT, thuế thu nhập cá nhân đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh
Chính phủ ban hành Nghị định số 68/2026/NĐ-CP ngày 05/3/2026 quy định về chính sách thuế và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.
Nghị định này quy định về chính sách thuế: thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân và các loại thuế khác; khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, xử lý tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa; phạm vi trách nhiệm, cách thức các chủ quản nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khác thực hiện khấu trừ, kê khai thay và nộp thay số thuế đã khấu trừ của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh; trách nhiệm khai thay, nộp thuế thay của tổ chức trong các trường hợp: hợp tác kinh doanh với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, ký hợp đồng với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh làm đại lý bán đúng giá đối với xổ số, bảo hiểm, bán hàng đa cấp; sử dụng hóa đơn điện tử; trách nhiệm của tổ chức cá nhân có liên quan.
Về việc khai thuế, nộp thuế giá trị gia tăng, thu nhập cá nhân đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, Nghị định quy định như sau:
Đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh bắt đầu hoạt động sản xuất, kinh doanh trong 06 tháng đầu năm nếu có doanh thu thực tế từ 500 triệu đồng trở xuống thì thực hiện thông báo doanh thu thực tế phát sinh kể từ khi bắt đầu hoạt động sản xuất, kinh doanh đến hết ngày 30/6 với cơ quan thuế quản lý trực tiếp chậm nhất là ngày 31/7 và thông báo doanh thu thực tế phát sinh trong 06 tháng cuối năm chậm nhất là ngày 31/01 của năm dương lịch tiếp theo.
Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh bắt đầu hoạt động sản xuất, kinh doanh trong 06 tháng cuối năm nếu có doanh thu thực tế từ 500 triệu đồng trở xuống thì thực hiện thông báo doanh thu thực tế phát sinh chậm nhất là ngày 31/01 của năm dương lịch tiếp theo.
Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh mới bắt đầu hoạt động sản xuất, kinh doanh, khi có doanh thu lũy kế trên 500 triệu đồng thì thực hiện khai thuế theo quý theo quy định tại Điều 10 Nghị định này kể từ quý phát sinh doanh thu trên 500 triệu đồng.
Từ năm tiếp theo, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nếu có doanh thu thực tế phát sinh từ 500 triệu đồng trở xuống thực hiện thông báo doanh thu theo quy định tại Điều 8 Nghị định này; trường hợp có doanh thu thực tế phát sinh trên 500 triệu đồng thì thực hiện khai thuế theo quy định tại Điều 10 Nghị định này.
Đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 500 triệu đồng, Nghị định quy định việc khai thuế, nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân được thực hiện như sau:
Về khai thuế, nộp thuế giá trị gia tăng, trường hợp có doanh thu năm từ 50 tỷ đồng trở xuống thực hiện khai thuế, nộp thuế giá trị gia tăng theo quý.
Trường hợp có doanh thu năm trên 50 tỷ đồng thực hiện khai thuế, nộp thuế giá trị gia tăng theo tháng.
Về khai thuế, nộp thuế thu nhập cá nhân, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh lựa chọn nộp thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp thuế suất nhân (x) doanh thu tính thuế thực hiện khai, nộp thuế thu nhập cá nhân theo quý cùng thời hạn khai, nộp thuế giá trị gia tăng.
Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp thu nhập tính thuế nhân (x) thuế suất thực hiện khai tạm nộp thuế thu nhập cá nhân theo tháng, quý trên cùng hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng.
Số thuế thu nhập cá nhân tạm nộp bằng thuế suất nhân (x) doanh thu tính thuế của tháng, quý và khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân theo năm.
Trường hợp số thuế thu nhập cá nhân đã tạm nộp ít hơn số thuế đã khai tạm nộp, số thuế tạm nộp ít hơn số thuế phải nộp khi quyết toán thì hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thực hiện nộp bổ sung và không phải tính tiền chậm nộp.
Trường hợp số thuế thu nhập cá nhân tạm nộp nhiều hơn số thuế phải nộp khi quyết toán thì thực hiện thủ tục xử lý tiền thuế nộp thừa theo quy định tại Điều 12 Nghị định này.
Đảm bảo việc điều hành sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trong tình hình mới
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Công điện số 21/CĐ-TTg ngày 11/03/2026 về việc điều hành sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trong tình hình mới.
Công điện yêu cầu Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo các địa phương theo dõi, dự báo và nắm chắc tình hình sản xuất, tăng cường phòng chống sinh vật gây hại, chủ động ứng phó với các diễn biến bất lợi của thời tiết để bảo vệ an toàn các vụ sản xuất để đảm bảo năng suất, sản lượng theo kế hoạch và chi phí thấp; chủ trì, phối hợp với các cơ quan, địa phương có liên quan xử lý kịp thời các rào cản kỹ thuật để đảm bảo gia tăng khối lượng và mở rộng thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam.
Bộ trưởng Bộ Công Thương chủ trì theo dõi chặt chẽ và dự báo sát tình hình xuất, nhập khẩu; nhu cầu tiêu thụ; giá cả lương thực trong khu vực và trên thị trường thế giới để có các biện pháp chủ động, linh hoạt điều tiết việc kinh doanh, xuất nhập khẩu gạo để đảm bảo nâng cao hiệu quả xuất khẩu...

Phát triển mạnh doanh nghiệp tư nhân, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước
Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 463/QĐ-TTg ngày 22/3/2026 ban hành Kế hoạch triển khai Phong trào thi đua "Phát triển mạnh doanh nghiệp tư nhân, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước".
Kế hoạch phấn đấu có gần 2 triệu doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế, 20 doanh nghiệp hoạt động/nghìn dân, có ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Tốc độ tăng trưởng bình quân của kinh tế tư nhân đạt khoảng 10 - 12%/năm, đóng góp khoảng 55 - 58% GDP, khoảng 35 - 40% tổng thu ngân sách, giải quyết việc làm cho khoảng 84 - 85% tổng số lao động…
Bảo đảm bộ máy chính quyền địa phương nhiệm kỳ 2026–2031 đi vào hoạt động chất lượng, hiệu quả
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Chỉ thị số 08/CT-TTg ngày 17/3/2026 về tổ chức kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 và tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương 02 cấp.
Thủ tướng đề nghị Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy chuẩn bị tốt công tác nhân sự để tổ chức Kỳ họp thứ nhất Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 theo đúng quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Hướng dẫn số 1563/HD-UBTVQH15 ngày 13 tháng 3 năm 2026 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các văn bản pháp luật liên quan, bảo đảm bộ máy chính quyền địa phương nhiệm kỳ 2026 – 2031 đi vào hoạt động chậm nhất ngày 01 tháng 4 năm 2026.
Lãnh đạo, chỉ đạo kiện toàn các chức vụ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân các cấp; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân và Ủy viên Ủy ban nhân dân các cấp; chỉ đạo Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trình Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn chức vụ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chậm nhất ngày 31 tháng 3 năm 2026...
Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng kinh phí quản lý hành chính
Chính phủ ban hành Nghị định số 75/2026/NĐ-CP ngày 16/3/2026 quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý, sử dụng kinh phí quản lý hành chính.
Nghị định này gồm 3 chương, 15 điều quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý, sử dụng kinh phí quản lý hành chính của cơ quan nhà nước.
Nghị định quy định kinh phí quản lý hành chính giao cho cơ quan thực hiện chế độ tự chủ từ các nguồn sau:
1. Nguồn ngân sách nhà nước cấp chi quản lý hành chính theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và được xác định để giao tự chủ theo quy định tại Nghị định này.
2. Các nguồn thu hợp pháp theo quy định của pháp luật (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác).
Hoàn thiện dứt điểm việc rà soát, đề xuất các dự án, đất đai, cập nhật trên Hệ thống 751 trước ngày 15/3/2026
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình ký Công điện số 20/CĐ-TTg ngày 05/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc khẩn trương hoàn thành rà soát, báo cáo kết quả xử lý các dự án khó khăn, vướng mắc.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khẩn trương chỉ đạo cơ quan liên quan hoàn thiện dứt điểm việc rà soát, đề xuất các dự án, đất đai (bao gồm 482 dự án, đất đai đã thông báo và phát sinh (nếu có)) theo hướng dẫn của Bộ Tài chính tại văn bản số 1244/BTC-PTHT ngày 30/01/2026, đảm bảo phù hợp với quy định tại mục 14 Nghị quyết số 265/2025/QH15 ngày 11/12/2025 Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV cùng các cơ chế, chính sách đặc thù tại Nghị quyết số 170/2024/QH15, gửi văn bản về Bộ Tài chính và cập nhật trên Hệ thống 751 trước ngày 15/3/2026, chịu trách nhiệm toàn diện về kết quả rà soát, đề xuất.
Quy định xử phạt vi phạm về giấy phép thực hiện công việc bức xạ
Chính phủ ban hành Nghị định số 71/2026/NĐ-CP ngày 09/3/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử. Trong đó, đáng chú ý là các quy định xử phạt vi phạm về giấy phép tiến hành công việc bức xạ.
Trong đó, phạt từ 10 – 20 triệu đồng đối với hành vi xuất, nhập khẩu chất phóng xạ, nguồn phóng xạ không có giấy phép; phạt từ 15 – 25 triệu đồng đối với việc vận chuyển nguồn phóng xạ, chất phóng xạ, chất thải phóng xạ không phép; phạt từ 20-30 triệu đồng đối với hành vi xử lý, chôn cất chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ không phép; phạt từ 40- 60 triệu đồng đối với việc vận hành thiết bị chiếu xạ sử dụng nguồn phóng xạ không phép...
Phát triển mạng lưới các cơ sở xạ trị, y học hạt nhân
Đó là một trong những nội dung của Chiến lược phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050 (Chiến lược) đã được Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng phê duyệt tại Quyết định số 438/QĐ-TTg ngày 16/3/2026.
Mục tiêu tổng quát của Chiến lược là phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử bảo đảm an toàn, an ninh, phục vụ hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường và an ninh năng lượng quốc gia, góp phần đạt mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050. Đưa vào vận hành các nhà máy điện hạt nhân một cách an toàn, hiệu quả, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng phục vụ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; hoàn thành một số nhiệm vụ cơ bản trong chương trình phát triển điện hạt nhân. Mở rộng ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ trong các ngành kinh tế - kỹ thuật. Hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực quản lý nhà nước, tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ hạt nhân, từng bước làm chủ các công nghệ chiến lược, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử, bảo đảm an toàn, an ninh.
Phê duyệt Đề án chuyển đổi số các doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026 – 2030
Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng ký Quyết định số 433/QĐ-TTg ngày 16/3/2026 phê duyệt Đề án chuyển đổi số các doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026 – 2030 (Đề án).
Mục tiêu của Đề án nhằm nâng cao mức độ sẵn sàng, năng lực chuyển đổi số của doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua các gói hỗ trợ phù hợp với nhu cầu, quy mô, mức độ sẵn sàng và đặc thù của từng ngành, lĩnh vực; từ đó thúc đẩy chuyển đổi số thực chất, toàn diện, cải thiện năng suất và hiệu quả hoạt động, khả năng thích ứng với biến động thị trường và tham gia sâu vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Phấn đấu đến năm 2030, ít nhất 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa được hỗ trợ thông qua các hoạt động của Đề án (như đánh giá mức độ sẵn sàng, thử nghiệm và ứng dụng sản phẩm, giải pháp về chuyển đổi số, tư vấn về chuyển đổi số, đào tạo, nâng cao năng lực số). Trong đó, ít nhất 300.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa được hỗ trợ ứng dụng sản phẩm, giải pháp công nghệ số, nền tảng số, trí tuệ nhân tạo.
Triển khai Phong trào thi đua "Đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh"
Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 462/QĐ-TTg ngày 22/3/2026 ban hành Kế hoạch triển khai Phong trào thi đua "Đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh" (Kế hoạch).
Mục đích của Kế hoạch nhằm tạo khí thế thi đua sôi nổi, khơi dậy tinh thần chủ động, sáng tạo, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, các tầng lớp Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp trong việc ứng dụng khoa học, công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh vào hoạt động quản lý, sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội.
Đồng thời, khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển quốc gia, phát huy tính chủ động, sáng tạo trong toàn hệ thống chính trị và trong Nhân dân, tự lực tự cường, khai thác tối đa năng lực nội sinh, với quan điểm: Người dân là trung tâm, là chủ thể và là mục tiêu của phát triển, trong đó chất lượng môi trường sống được coi là thước đo quan trọng phản ánh hiệu quả và tính bền vững của tăng trưởng kinh tế - xã hội.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới
Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (Tuyên bố JETP).
Đề án phấn đấu giai đoạn từ nay đến năm 2030 hoàn thiện thể chế, chính sách, khung pháp lý đồng bộ, tạo môi trường thuận lợi thu hút đầu tư, khuyến khích phát triển điện gió ngoài khơi, điện mặt trời, hệ thống lưu trữ năng lượng; nghiên cứu, đề xuất các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường, phát thải khí nhà kính cho các công nghệ năng lượng mới (như CCUS, hydrogen xanh, amoniac xanh) để đảm bảo tính khả thi và phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế...

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong điều hành giao thông
Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà ký Quyết định số 456/QĐ-TTg ngày 20/3/2026 phê duyệt Đề án "Xây dựng Trung tâm dữ liệu, quản lý, giám sát, xử lý vi phạm và điều hành giao thông giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050" (Đề án).
Mục tiêu của Đề án là xây dựng Trung tâm dữ liệu, quản lý, giám sát, xử lý vi phạm và điều hành giao thông theo mô hình thống nhất trên phạm vi toàn quốc; vận hành trên nền tảng dữ liệu dùng chung; từng bước ứng dụng trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ phân tích, dự báo và điều hành. Qua đó, đổi mới phương thức quản lý giao thông từ mô hình chủ yếu xử lý vi phạm sang mô hình điều hành chủ động dựa trên dữ liệu; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Chấn chỉnh công tác kiểm soát giết mổ gia súc
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Công điện số 26/CĐ-TTg ngày 30/3/2026 chấn chỉnh công tác kiểm soát giết mổ, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong thực thi công vụ. Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát các cơ sở giết mổ nhằm ngăn chặn, phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp thu gom, vận chuyển, đưa sản phẩm động vật không đủ điều kiện ra tiêu thụ trên thị trường và kiên quyết xử lý các tổ chức, cá nhân có hành vi hợp thức hóa quy định của pháp luật đối với cơ sở giết mổ không đảm bảo vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm; chịu trách nhiệm toàn diện trước Thủ tướng Chính phủ nếu để xảy ra vi phạm.
Kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển động vật, sản phẩm động vật; tăng cường kiểm tra tại các điểm tập kết, trung chuyển, chợ đầu mối; kiên quyết xử lý dứt điểm tình trạng vận chuyển sản phẩm động vật không rõ nguồn gốc, không đảm bảo vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm.
Chỉ đạo, phân công các lực lượng của địa phương tổ chức kiểm tra, giám sát chặt chẽ tại các cơ sở thu gom, giết mổ gia súc; tăng cường công tác kiểm tra và truy xuất nguồn gốc đối với việc vận chuyển lợn tiêu thụ tại địa phương; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm; xử lý trách nhiệm người đứng đầu; kiên quyết thay thế cán bộ vi phạm, suy thoái đạo đức công vụ; chuyển cơ quan điều tra đối với trường hợp có dấu hiệu tội phạm.
Bố trí ổn định lực lượng thú y tại cơ sở, bảo đảm thực hiện hiệu quả kiểm dịch, kiểm soát giết mổ và phòng, chống dịch bệnh; tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động thực thi công vụ; nâng cao năng lực, siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính.
Chính sách vay vốn đối với người sau cai nghiện ma túy
Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Đức Phớc ký Quyết định số 08/2026/QĐ-TTg ngày 03/3/2026 về tín dụng đối với người sau cai nghiện ma túy.
Theo Quyết định, để được vay vốn, người sau cai nghiện ma túy đáp ứng các điều kiện sau:
Có nhu cầu vay vốn và có tên trong danh sách người sau cai nghiện ma túy có thời gian kể từ ngày ban hành Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đến thời điểm vay vốn không quá 10 năm, chấp hành tốt các quy định của pháp luật, do Công an cấp xã lập và được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận theo Biểu mẫu kèm theo Quyết định này.
Trường hợp người sau cai nghiện ma túy vay vốn để tham gia đào tạo nghề trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng phải thuộc trường hợp không còn dư nợ chương trình tín dụng khác có cùng mục đích đào tạo nghề trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng, có giấy xác nhận của cơ sở đào tạo nghề nghiệp theo quy định tại Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27/9/2007 về tín dụng đối với học sinh, sinh viên và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế (nếu có).
Đối với cơ sở sản xuất kinh doanh, điều kiện vay vốn như sau:
Được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật.
Có sử dụng tối thiểu 10% tổng số lao động là người sau cai nghiện ma túy và có hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật về lao động. Trường hợp người sau cai nghiện ma túy là thành viên cùng hộ gia đình với chủ hộ kinh doanh hoặc là thành viên hộ kinh doanh thì không yêu cầu hợp đồng lao động.
Lao động là người sau cai nghiện ma túy tại cơ sở sản xuất kinh doanh phải có tên trong danh sách theo Biểu mẫu kèm theo Quyết định này hoặc có Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú với thời gian kể từ ngày ban hành Quyết định đến thời điểm cơ sở sản xuất kinh doanh đề nghị vay vốn không quá 10 năm.
Có phương án vay vốn để sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm.
Mức vốn cho vay
Đối với vay vốn để tham gia đào tạo nghề trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng, Quyết định quy định mức cho vay tối đa bằng mức cho vay quy định theo Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27/9/2007 về tín dụng đối với học sinh, sinh viên và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế (nếu có) sau khi loại trừ các khoản hỗ trợ đào tạo nghề nghiệp (nếu có) theo xác nhận của cơ sở đào tạo (mức cho vay tối đa hiện tại áp dụng là 4.000.000 đồng/tháng/người sau cai nghiện ma túy).
Đối với vay vốn để sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, mức cho vay tối đa là 200.000.000 đồng/người sau cai nghiện ma túy.
Trường hợp người sau cai nghiện ma túy (trực tiếp đứng tên vay vốn hoặc vay vốn thông qua hộ gia đình, người giám hộ) đang có dư nợ chương trình cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì, mở rộng việc làm hoặc các chương trình cho vay cá nhân khác có mục đích sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm tại Ngân hàng Chính sách xã hội thì tổng dư nợ của chương trình cho vay đối với người sau cai nghiện ma túy và các chương trình có mục đích sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm không vượt quá mức cho vay tối đa là 200.000.000 đồng/người sau cai nghiện ma túy.
Đối với cơ sở sản xuất kinh doanh, mức cho vay tối đa là 2.000.000.000 đồng/cơ sở sản xuất kinh doanh và không quá 200.000.000 đồng/người lao động tại cơ sở sản xuất kinh doanh.
Từ năm 2028, mức sống tối thiểu của người lao động được công bố hằng năm
Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc ký quyết định số 380/QĐ-TTg ngày 3/3/2026 phê duyệt đề án Xây dựng và công bố mức sống tối thiểu hằng năm làm căn cứ xác định các chuẩn chính sách xã hội (Đề án).
Mục tiêu của Đề án là xây dựng và công bố mức sống tối thiểu hằng năm làm căn cứ xác định các chuẩn chính sách xã hội.
Đề án hướng tới nâng cao chất lượng nguồn số liệu phục vụ biên soạn mức sống tối thiểu của dân cư, đảm bảo từ năm 2026 số liệu mức sống tối thiểu của dân cư chia theo khu vực thành thị và nông thôn được công bố hằng năm; xác định phương pháp tính và nguồn số liệu phục vụ biên soạn mức sống tối thiểu của người lao động, đảm bảo từ năm 2028 số liệu mức sống tối thiểu của người lao động được công bố hằng năm; xây dựng kế hoạch điều tra phục vụ biên soạn và công bố số liệu mức sống tối thiểu của dân cư và mức sống tối thiểu của người lao động hằng năm.
Quy định về tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung
Chính phủ ban hành Nghị định số 85/2026/NĐ-CP về bảo hiểm hưu trí bổ sung. Trong đó, đáng chú ý là các quy định liên quan đến đối tượng, phương thức, quy trình tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung.
Nghị định quy định đối tượng tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung là người sử dụng lao động và người lao động đã tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội. Các đối tượng này được tự nguyện tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung do các doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí triển khai thông qua người sử dụng lao động.
Nghị định quy định việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung không phải là điều kiện bắt buộc để tuyển dụng, ký kết, gia hạn hợp đồng lao động; người sử dụng lao động không được phân biệt đối xử, cản trở quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động thông qua việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung. Người sử dụng lao động không được gắn việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung với chính sách khen thưởng, đánh giá thi đua và phúc lợi của doanh nghiệp đối với người lao động.
Mức đóng bảo hiểm hưu trí bổ sung do người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện.
Sửa đổi quy định về thẩm quyền xử phạt trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm
Chính phủ ban hành Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 174/2024/NĐ-CP ngày 30/12/2024 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm.
Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 41 của Nghị định số 174/2024/NĐ-CP quy định về thẩm quyền xử phạt trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm:
Trưởng đoàn kiểm tra do Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm thành lập có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 80.000.000 đồng; đình chỉ hoạt động có thời hạn; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.
Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, Trưởng đoàn kiểm tra do Bộ trưởng Bộ Tài chính thành lập có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 100.000.000 đồng; đình chỉ hoạt động có thời hạn; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.
Chiến sĩ Công an nhân dân đang thi hành công vụ có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 10.000.000 đồng.
Đội trưởng của Công an nhân dân có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 30.000.000 đồng; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.
Trưởng Công an cấp xã có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 50.000.000 đồng; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.
Bảo đảm cơ cấu hợp lý đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong cơ quan nhà nước
Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 470/QĐ-TTg ngày 24/3/2026 phê duyệt Đề án "Phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2035" (Đề án).
Mục tiêu của Đề án nhằm tiếp tục nâng cao tỷ lệ, số lượng, chất lượng, bảo đảm cơ cấu hợp lý đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, nhất là các cơ quan, đơn vị thực hiện chức năng, nhiệm vụ về công tác dân tộc, các địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số có đủ phẩm chất, uy tín, năng lực, trình độ, chuyên nghiệp đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; góp phần củng cố hệ thống chính trị cơ sở và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước nói chung và tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nói riêng...
Tăng mức phạt đối với một số hành vi vi phạm trong lĩnh vực bình đẳng giới
Chính phủ ban hành Nghị định số 76/2026/NĐ-CP ngày 16/3/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 125/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bình đẳng giới theo hướng điều chỉnh tăng mức phạt đối với nhiều hành vi vi phạm.
Trong đó, Nghị định số 76/2026/NĐ-CP điều chỉnh tăng mức phạt tối đa từ 3.000.000 đồng lên 4.000.000 đồng đối với các hành vi sau:
- Xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người tự ứng cử, được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp vì định kiến giới;
- Xúc phạm danh dự, nhân phẩm nhằm cản trở việc bổ nhiệm người vào vị trí quản lý, lãnh đạo hoặc các chức danh chuyên môn vì định kiến giới;
- Cố ý tuyên truyền sai sự thật để cản trở người tự ứng cử, được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp vì định kiến giới;
- Cố ý tuyên truyền sai sự thật để cản trở việc bổ nhiệm người vào vị trí quản lý, lãnh đạo hoặc các chức danh chuyên môn vì định kiến giới;
- Xúc phạm danh dự, nhân phẩm người thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh vì định kiến giới;
- Đe dọa dùng vũ lực hoặc uy hiếp tinh thần nhằm cản trở người thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh vì định kiến giới;
- Xúi giục người khác trì hoãn cung cấp hoặc trì hoãn, không cung cấp đầy đủ, đúng thời hạn theo quy định các thông tin, tài liệu, mẫu hồ sơ theo quy định đối với người thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh vì định kiến giới.
Tiêu chuẩn, điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên
Chính phủ ban hành Nghị định số 65/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phục hồi, phá sản về Quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản.
Trong đó, Nghị định quy định người có đủ các tiêu chuẩn sau đây thì được xem xét cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên:
a) Luật sư hoặc kiểm toán viên là người Việt Nam; luật sư nước ngoài hoặc kiểm toán viên là người nước ngoài được phép hành nghề tại Việt Nam; người có trình độ cử nhân hoặc thạc sĩ hoặc tiến sĩ về một trong các chuyên ngành luật, kinh tế, kế toán, tài chính, ngân hàng và có thời gian công tác từ đủ 05 năm trở lên trong lĩnh vực được đào tạo;
b) Đã hoàn thành khóa bồi dưỡng nghề Quản tài viên.
5 phương thức khai thác tài sản kết cấu hạ tầng thủy lợi
Chính phủ ban hành Nghị định số 74/2026/NĐ-CP ngày 14/03/2026 quy định việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản kết cấu hạ tầng thủy lợi.
Nghị định quy định phương thức khai thác tài sản kết cấu hạ tầng thủy lợi bao gồm:
a) Trực tiếp tổ chức thực hiện khai thác tài sản kết cấu hạ tầng thủy lợi.
b) Cho thuê quyền khai thác tài sản kết cấu hạ tầng thủy lợi.
c) Chuyển nhượng có thời hạn quyền khai thác tài sản kết cấu hạ tầng thủy lợi.
d) Đầu tư theo hình thức hợp tác kinh doanh. Việc khai thác theo hình thức này được thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư và pháp luật khác có liên quan.
đ) Phương thức khác theo quy định của pháp luật.
Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia
Chính phủ ban hành Nghị định số 79/2026/NĐ-CP ngày 18/3/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia.
Nghị định quy định phạt đến 75 triệu đồng đối với hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới ngoài khu vực cửa khẩu; phạt từ 30 đến 40 triệu đồng đối với hàng hóa vi phạm về tàng trữ, mua bán, vận chuyển ở khu vực biên giới có giá trị từ 100 triệu đồng; phạt từ 10- 20 triệu đồng khi vi phạm lưu giữ hàng hóa không đúng địa điểm quy định.
Bơi lội, làm mất trật tự công cộng trong khu vực cảng biển bị phạt tới 1 triệu đồng
Chính phủ ban hành Nghị định số 80/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 142/2017/NĐ-CP ngày 11/12/2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ và Nghị định số 139/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa.
Trong đó, Nghị định số 80/2026/NĐ-CP quy định hành vi bơi lội hoặc làm mất trật tự công cộng trong khu vực cảng biển bị phạt tới 1 triệu đồng.
Trang bị phương tiện chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ cơ giới không bảo đảm bị phạt tới 40 triệu đồng
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2026/NĐ-CP ngày 6/3/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 106/2025/NĐ-CP ngày 15/5/2025 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.
Trong đó, Nghị định số 69/2026/NĐ-CP bổ sung điểm c của khoản 8 Điều 20 vi phạm quy định về trang bị, lắp đặt phương tiện phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.
Theo quy định mới, hành vi trang bị phương tiện chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ cơ giới không bảo đảm theo quy định sẽ bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
Quy định về điều kiện năng lực chuyên môn đối với tổ chức tư vấn lập quy hoạch
Tại Nghị định số 70/2026/NĐ-CP, Chính phủ quy định chi tiết về điều kiện năng lực chuyên môn đối với tổ chức tư vấn lập quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh.
Về điều kiện năng lực chuyên môn đối với tổ chức tư vấn lập quy hoạch, Nghị định quy định tổ chức tư vấn trong nước lập quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh phải có ít nhất 01 chuyên gia tư vấn chủ trì lập quy hoạch và có ít nhất 05 chuyên gia tư vấn tham gia lập quy hoạch đáp ứng các điều kiện quy định (trừ trường hợp pháp luật về đầu tư có quy định khác). Cụ thể:
Chuyên gia tư vấn chủ trì lập quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh phải có ít nhất 15 năm kinh nghiệm thuộc chuyên ngành có liên quan đến nội dung quy hoạch cần lập đối với người có bằng đại học liên quan đến nội dung quy hoạch hoặc có ít nhất 8 năm kinh nghiệm thuộc chuyên ngành có liên quan đến nội dung quy hoạch cần lập đối với người có bằng thạc sĩ trở lên liên quan đến nội dung quy hoạch và đáp ứng điều kiện sau đây:
Chuyên gia tư vấn chủ trì lập quy hoạch cấp quốc gia phải bảo đảm đã chủ trì lập ít nhất 01 quy hoạch cùng cấp quy hoạch cần lập và quy hoạch đó đã được cấp có thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt hoặc chuyên gia tư vấn đã tham gia lập ít nhất 02 quy hoạch cùng cấp quy hoạch cần lập và quy hoạch đó đã được cấp có thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt.
Chuyên gia tư vấn chủ trì lập quy hoạch vùng phải bảo đảm đã chủ trì lập ít nhất 01 quy hoạch thuộc quy hoạch cấp quốc gia hoặc quy hoạch vùng và các quy hoạch đó đã được cấp có thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt hoặc chuyên gia tư vấn đã tham gia lập ít nhất 02 quy hoạch thuộc quy hoạch cấp quốc gia hoặc quy hoạch vùng và các quy hoạch đó đã được cấp có thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt.
Chuyên gia tư vấn chủ trì lập quy hoạch tỉnh phải bảo đảm đã chủ trì lập ít nhất 01 quy hoạch thuộc quy hoạch cấp quốc gia hoặc quy hoạch vùng hoặc quy hoạch tỉnh và các quy hoạch đó đã được cấp có thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt hoặc chuyên gia tư vấn đã tham gia lập ít nhất 02 quy hoạch thuộc hệ thống quy hoạch có thẩm quyền phê duyệt từ Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trở lên và các quy hoạch đó đã được cấp có thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt.
Chuyên gia tư vấn tham gia lập quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh phải có ít nhất 10 năm kinh nghiệm thuộc chuyên ngành có liên quan đến nội dung quy hoạch cần lập đối với người có bằng đại học hoặc có ít nhất 5 năm kinh nghiệm thuộc chuyên ngành có liên quan đến nội dung quy hoạch cần lập đối với người có bằng thạc sĩ trở lên và đáp ứng điều kiện sau đây:
Chuyên gia tư vấn tham gia lập quy hoạch cấp quốc gia phải bảo đảm đã tham gia lập ít nhất 01 quy hoạch cùng cấp quy hoạch cần lập và quy hoạch đó đã được cấp có thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt.
Chuyên gia tư vấn tham gia lập quy hoạch vùng phải bảo đảm đã tham gia lập ít nhất 01 quy hoạch thuộc hệ thống quy hoạch có thẩm quyền phê duyệt từ Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trở lên và quy hoạch đó đã được cấp có thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt
Chuyên gia tư vấn tham gia lập quy hoạch tỉnh phải bảo đảm đã tham gia lập ít nhất 01 quy hoạch thuộc hệ thống quy hoạch và quy hoạch đó đã được cấp có thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt.

Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường sắt
Chính phủ ban hành Nghị định số 81/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường sắt.
Nghị định quy định các hành vi vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường sắt gồm: vi phạm quy định về tín hiệu, quy tắc giao thông đường sắt và bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường sắt; vi phạm quy định về kết cấu hạ tầng đường sắt; vi phạm quy định về phương tiện giao thông đường sắt; vi phạm quy định về kinh doanh đường sắt; vi phạm khác có liên quan đến giao thông đường sắt.
Tạo chuyển biến trong nhận thức và hành động bảo vệ môi trường
Chính phủ có Nghị quyết số 67/NQ-CP ngày 25/3/2026 ban hành Kế hoạch triển khai Nghị quyết số 247/2025/QH15 ngày 10/12/2025 của Quốc hội về tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường (Kế hoạch).
Mục đích của Kế hoạch nhằm triển khai kịp thời, đồng bộ Nghị quyết số 247/2025/QH15 của Quốc hội, tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác bảo vệ môi trường, góp phần thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng với trọng tâm là phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn vì sự phát triển bền vững của đất nước đã được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV đề ra...
Đơn giản hóa thủ tục đăng ký sử dụng các chất làm suy giảm tầng ô-dôn, gây hiệu ứng nhà kính được kiểm soát
Chính phủ ban hành Nghị định số 83/2026/NĐ-CP ngày 23/03/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 07/01/2022 của Chính phủ quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 119/2025/NĐ-CP ngày 09/6/2025.
Nghị định số 83/2026/NĐ-CP đã cắt giảm thời gian kiểm tra hồ sơ đăng ký sử dụng chất được kiểm soát; cắt giảm thời gian xem xét quyết định phân bổ hạn ngạch sản xuất và nhập khẩu...
Bảo vệ, thúc đẩy trẻ em phát triển lành mạnh, tích cực trên môi trường mạng
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Quyết định số 468/QĐ-TTg ngày 23/3/2026 phê duyệt Chương trình "Bảo vệ và hỗ trợ trẻ em phát triển trên môi trường mạng giai đoạn 2026 - 2030".
Trong giai đoạn 2026-2030, Chương trình phấn đấu 100% cơ sở giáo dục phổ thông được triển khai giải pháp an ninh mạng và 100% doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truy nhập Internet tại Việt Nam tích hợp giải pháp ngăn chặn thông tin độc hại trên đường truyền mạng.
Xây dựng và triển khai tại 100% các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giải pháp công nghệ hỗ trợ giáo dục kỹ năng số, tư vấn, hỗ trợ thông minh cho trẻ em.
Đảm bảo 100% trẻ em là nạn nhân bị xâm hại trên môi trường mạng được hỗ trợ, can thiệp khi có yêu cầu từ bản thân trẻ em hoặc từ người thân, cộng đồng xã hội.
Người quản lý, điều hành Điểm kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng phải có tối thiểu 3 năm kinh nghiệm
Chính phủ ban hành Nghị định 86/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 121/2021/NĐ-CP ngày 27/12/2021 về kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng dành cho người nước ngoài.
Trong đó, Nghị định 86/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 19 quy định về điều kiện, tiêu chuẩn người quản lý, điều hành Điểm kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng (Điểm kinh doanh).
Theo quy định mới, người quản lý, điều hành Điểm kinh doanh phải:
- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không thuộc trường hợp đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang chấp hành hình phạt tù, bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề trong lĩnh vực trò chơi điện tử có thưởng;
- Có trình độ đào tạo tối thiểu từ đại học trở lên và có tối thiểu 03 năm kinh nghiệm trong việc quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng.
Điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới
Chính phủ ban hành Nghị định số 89/2026/NĐ-CP quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới; tổ chức, hoạt động của cơ sở đăng kiểm; niên hạn sử dụng của xe cơ giới.
Trong đó, Nghị định 89/2026/NĐ-CP quy định điều kiện chung về kinh doanh dịch vụ kiểm định xe cơ giới:
Đáp ứng các quy định tại Nghị định này, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sở đăng kiểm xe cơ giới, cơ sở kiểm định khí thải xe mô tô, xe gắn máy (sau đây viết tắt là Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sở đăng kiểm) và được tổ chức đánh giá sự phù hợp đánh giá sự phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sở đăng kiểm; trường hợp chưa có tổ chức đánh giá sự phù hợp đánh giá cơ sở đăng kiểm hoặc có Tổ chức đánh giá sự phù hợp nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu đánh giá của cơ sở đăng kiểm thì phải được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức kiểm tra xác nhận cơ sở đăng kiểm phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sở đăng kiểm.
Có giấy tờ, tài liệu theo quy định của pháp luật về xây dựng, pháp luật về đất đai; kết nối giao thông và đấu nối đường bộ theo quy định; bảo vệ môi trường, an toàn, vệ sinh lao động, phòng cháy và chữa cháy và pháp luật khác có liên quan khi xây dựng, đưa cơ sở đăng kiểm vào hoạt động.
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
3 giờ trước
6 giờ trước
7 giờ trước
2 ngày trước
3 ngày trước
4 ngày trước
46 phút trước
1 giờ trước
5 phút trước
52 phút trước
1 phút trước
8 phút trước
10 phút trước
10 phút trước
33 phút trước
41 phút trước