Cắt giảm thủ tục hành chính: 'Mũi khoan' khơi thông dòng vốn cho doanh nghiệp

Chính phủ đang quyết liệt tháo gỡ điểm nghẽn bằng đề xuất bãi bỏ giấy phép ở hàng loạt ngành nghề đầu tư có điều kiện và cắt giảm hàng trăm thủ tục hành chính. Động thái này được kỳ vọng tạo bước ngoặt lớn, chuyển tư duy quản lý từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”.
Trao đổi với Pháp Luật TP.HCM, Tiến sĩ Lê Bá Chí Nhân nhận định đợt cải cách sâu rộng này không chỉ giảm chi phí tuân thủ mà còn là “mũi khoan” phá băng, khơi thông lượng vốn lớn đang bị mắc kẹt, tạo xung lực phục hồi cho cộng đồng doanh nghiệp.
Giải phóng nguồn vốn từ việc cắt giảm rào cản
. Phóng viên: Thưa ông, việc cắt giảm gần 900 điều kiện và hàng trăm thủ tục hành chính được kỳ vọng giảm mạnh chi phí tuân thủ. Liệu dòng tiền tiết kiệm từ đợt cải cách này có đủ tạo xung lực giúp doanh nghiệp phục hồi ngay trong năm nay?
+ Tiến sĩ Lê Bá Chí Nhân: Việc cắt giảm gần 900 điều kiện kinh doanh và hàng trăm thủ tục hành chính lần này có thể xem là một “gói kích thích tài khóa vô hình”, tác động trực tiếp và nhanh nhất tới khu vực doanh nghiệp. Khác với hỗ trợ từ ngân sách, cải cách thủ tục làm giảm chi phí tuân thủ – loại chi phí âm thầm nhưng kéo dài nhiều năm, bào mòn dòng tiền và sức cạnh tranh.

Tiến sĩ Lê Bá Chí Nhân, chuyên gia kinh tế
Theo nhiều khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, chi phí tuân thủ có thể chiếm 3–5% doanh thu của doanh nghiệp nhỏ và vừa, thậm chí cao hơn ở các lĩnh vực chịu điều kiện kinh doanh chặt như logistics, thực phẩm, xuất nhập khẩu. Chi phí này không chỉ là lệ phí hành chính mà còn gồm thời gian chờ đợi, chi phí cơ hội khi vốn bị “giam” trong hàng tồn, chi phí nhân sự xử lý hồ sơ và cả các khoản phát sinh không chính thức.
Với hơn 900.000 doanh nghiệp đang hoạt động, lượng nguồn lực bị “đóng băng” bởi thủ tục có thể lên tới hàng trăm nghìn tỉ đồng mỗi năm. Tháo gỡ các rào cản này đồng nghĩa giải phóng một phần lớn vốn lưu động đang mắc trong quy trình xin – cấp – chờ phê duyệt.
Đối với doanh nghiệp, chỉ cần dòng tiền quay vòng nhanh hơn vài tuần cũng đã rất quan trọng: giảm nhu cầu vay ngắn hạn, hạ chi phí lãi vay và tăng khả năng xoay vòng hàng hóa.

Cắt giảm điều kiện kinh doanh và thủ tục hành chính giúp cộng đồng doanh nghiệp khơi thông nguồn dòng vốn. Ảnh: QH
Quan trọng hơn, hiệu quả của cải cách không chỉ nằm ở phần chi phí tiết kiệm được mà còn ở tâm lý thị trường. Khi môi trường kinh doanh thông thoáng hơn, doanh nghiệp sẽ mạnh dạn tái đầu tư, mở rộng quy mô, tăng nhập nguyên liệu và tuyển dụng lao động. Dòng tiền được “mở khóa” từ thủ tục sẽ nhanh chóng chuyển thành đơn hàng, sản xuất và tiêu dùng.
Có thể nói, nguồn lực được giải phóng từ đợt cải cách này đủ lớn để tạo xung lực phục hồi ngay trong năm nay. Đây cũng là dạng kích thích bền vững nhất vì không dựa vào bơm tiền mà trả lại thời gian, chi phí và quyền chủ động cho doanh nghiệp.
Định hình lại dòng vốn vào các ngành trọng điểm
. Thưa ông, việc đề xuất loại bỏ sáu ngành nghề kinh doanh có điều kiện đã phát tín hiệu rất tích cực. Sự thông thoáng này sẽ định hình lại dòng vốn đầu tư ra sao và nhóm ngành nào hấp thụ vốn tốt nhất hiện nay?
+ Việc dỡ bỏ hàng loạt rào cản gia nhập thị trường, đặc biệt là đề xuất đưa một số ngành ra khỏi danh mục đầu tư kinh doanh có điều kiện của Bộ Công Thương, phát đi tín hiệu chính sách rất rõ: Việt Nam đang chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, từ quản lý bằng điều kiện sang quản lý bằng tiêu chuẩn và giám sát.
Với nhà đầu tư, đây là thay đổi có ý nghĩa lớn hơn cả ưu đãi thuế hay đất đai vì tác động trực tiếp tới chi phí gia nhập thị trường và mức độ rủi ro thể chế. Trong nhiều năm, không ít nhà đầu tư nước ngoài đánh giá Việt Nam là thị trường tiềm năng nhưng khó đoán định ở khâu thủ tục và điều kiện kinh doanh.
Khi các rào cản này được tháo gỡ, chi phí thiết lập dự án, thời gian xin phép và độ bất định pháp lý giảm xuống, Việt Nam sẽ hấp dẫn hơn trong chiến lược phân bổ vốn khu vực của các tập đoàn đa quốc gia. Dòng vốn FDI vì vậy có xu hướng chuyển từ thăm dò sang đầu tư dài hạn, quy mô lớn, nhất là trong bối cảnh tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu.
Với khu vực tư nhân trong nước, tác động còn rõ hơn. Khi rào cản gia nhập thị trường giảm, nhiều doanh nghiệp sẽ mạnh dạn mở rộng sang các lĩnh vực trước đây e ngại vì thủ tục phức tạp. Nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư và doanh nghiệp có cơ hội được tái phân bổ vào sản xuất – kinh doanh thay vì nằm yên trong tài sản thụ động.

Cắt giảm nhiều thủ tục, giấy phép được doanh nghiệp kỳ vọng xuất khẩu tăng trưởng. Ảnh minh họa: QH
Những nhóm ngành hấp thụ vốn tốt nhất từ làn sóng cải cách này gồm logistics, thương mại xuất nhập khẩu, phân phối bán lẻ, chế biến thực phẩm, nông nghiệp công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ. Đây là các lĩnh vực chịu tác động trực tiếp của điều kiện kinh doanh và thủ tục chuyên ngành. Khi rào cản được dỡ bỏ, tốc độ quay vòng vốn nhanh hơn, biên lợi nhuận cải thiện và khả năng mở rộng quy mô lớn hơn.
Bên cạnh đó, chính sách phân cấp và đơn giản hóa thủ tục cũng giúp rút ngắn khoảng cách giữa trung ương và địa phương trong xử lý hồ sơ đầu tư. Điều này tạo môi trường cạnh tranh tích cực giữa các địa phương trong thu hút vốn, giúp dòng vốn được phân bổ hiệu quả hơn thay vì bị nghẽn ở khâu hành chính.

Sầu riêng Việt Nam xuất khẩu. Ảnh: QH
Xây dựng hệ sinh thái dữ liệu quản trị mới
. Chuyển sang hậu kiểm tất yếu làm gia tăng áp lực giám sát rủi ro. Cơ quan quản lý cần thiết lập bộ lọc tài chính và dữ liệu liên thông ra sao để kiểm soát an ninh mà không làm khó doanh nghiệp chân chính?
+ Chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” không có nghĩa là nới lỏng quản lý, mà là thay đổi công cụ quản lý từ giấy phép sang dữ liệu, từ điều kiện sang giám sát rủi ro. Cốt lõi là Nhà nước phải xây dựng được hệ sinh thái dữ liệu tài chính liên thông đủ mạnh để nhận diện sớm hành vi gian lận, thay vì chặn doanh nghiệp ngay từ đầu.
Trước hết, cần hình thành trục dữ liệu dùng chung kết nối giữa đăng ký kinh doanh, thuế, hải quan, ngân hàng và bảo hiểm xã hội. Khi dữ liệu của Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và hệ thống đăng ký doanh nghiệp được đồng bộ theo thời gian thực, cơ quan quản lý có thể nhìn đầy đủ bức tranh tài chính của doanh nghiệp: dòng tiền, hóa đơn, xuất nhập khẩu, nghĩa vụ thuế và lịch sử tín dụng.
Những bất thường như doanh thu lớn nhưng nộp thuế thấp, giao dịch tài chính bất thường hay vòng quay hóa đơn không hợp lý sẽ được cảnh báo tự động bằng thuật toán, thay vì kiểm tra thủ công.

Chuyển đổi sang cơ chế hậu kiểm đòi hỏi Nhà nước phải khẩn trương hoàn thiện hệ sinh thái dữ liệu số. Ảnh: QH
Thứ hai, cần áp dụng cơ chế xếp hạng rủi ro doanh nghiệp dựa trên dữ liệu tuân thủ. Doanh nghiệp có lịch sử minh bạch, nộp thuế đầy đủ, báo cáo tài chính chuẩn mực sẽ vào “luồng xanh”, giảm tần suất thanh tra, kiểm tra. Ngược lại, nhóm rủi ro cao sẽ thuộc diện giám sát trọng điểm. Cách làm này vừa tiết kiệm nguồn lực quản lý, vừa tránh gây áp lực không cần thiết cho doanh nghiệp chân chính.
Thứ ba, hóa đơn điện tử, thanh toán không tiền mặt và định danh số doanh nghiệp phải trở thành nền tảng bắt buộc. Khi mọi giao dịch đều để lại “dấu vết số”, khả năng gian lận tài chính, trốn thuế hay lập doanh nghiệp “ma” sẽ bị thu hẹp đáng kể.
Quan trọng nhất, hậu kiểm phải dựa trên công nghệ và dữ liệu chứ không phải gia tăng thủ tục. Nếu làm đúng, doanh nghiệp tốt gần như không cảm nhận áp lực quản lý, trong khi hành vi trục lợi vẫn bị phát hiện nhanh và xử lý chính xác. Đây mới là mô hình quản trị hiện đại của một nền kinh tế thị trường số hóa.
Xin cám ơn ông!

Xóa bỏ rào cản kinh doanh giúp Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư. Ảnh: QH
Chi phí tuân thủ thủ tục hành chính kéo dài đang âm thầm bào mòn sức cạnh tranh doanh nghiệp. Ảnh minh họa: QH


QUANG HUY
1 ngày trước
2 ngày trước
34 phút trước
4 giờ trước
1 giờ trước
4 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước