Cạnh tranh xuất khẩu gia tăng, gạo Việt chuyển sang 'xanh'
Chủ động thích ứng, giữ thị trường trọng điểm
Theo số liệu của Cục Hải quan, đến hết ngày 15/3/2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,74 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 826,2 triệu USD. So với cùng kỳ năm 2025, lượng xuất khẩu gạo tăng 2,3% nhưng giá trị giảm 8,7%, giá bình quân giảm tới 10,7%, còn 477,6 USD/tấn.

Tính đến giữa tháng 3/2026, giá gạo xuất khẩu bình quân giảm tới 10,7%, còn 477,6 USD/tấn. Ảnh: Nguyễn Hạnh
Diễn biến này phản ánh xu hướng giảm giá chung của thị trường gạo thế giới, đồng thời cho thấy áp lực cạnh tranh ngày càng lớn giữa các quốc gia xuất khẩu, đặc biệt khi nguồn cung toàn cầu gia tăng.
Về thị trường, Philippines tiếp tục là điểm đến lớn nhất, chiếm 47,6% thị phần. Trung Quốc và Ghana lần lượt chiếm 18,3% và 8,9%. Đáng chú ý, xuất khẩu sang Trung Quốc tăng đột biến 5,8 lần, trong khi Ghana giảm 31%. Trong nhóm 15 thị trường lớn, Bờ Biển Ngà ghi nhận mức giảm mạnh nhất tới 90,9%, cho thấy sự phân hóa rõ rệt.
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa cuối tháng 3/2026 đã chững lại sau giai đoạn giảm sâu, hiện dao động 5.400 - 6.900 đồng/kg tùy chủng loại. Dù đây là tín hiệu tích cực, mặt bằng giá vẫn thấp hơn đầu vụ, phản ánh áp lực từ thị trường quốc tế.
Nguồn cung nội địa cũng đang gia tăng mạnh khi vụ Đông Xuân bước vào thu hoạch rộ. Riêng Đồng Tháp đã thu hoạch hơn 109.800 ha, sản lượng gần 800.000 tấn. Nguồn cung lớn trong thời gian ngắn, trong khi sức mua chưa tăng tương ứng, khiến giá lúa chịu sức ép.
Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp vẫn duy trì thu mua để đảm bảo hợp đồng đã ký, đồng thời thực hiện dự trữ lưu thông theo quy định nhằm ổn định nguồn cung và hạn chế biến động giá.
Dù đối mặt với áp lực giá, xuất khẩu gạo sang Philippines, thị trường chủ lực vẫn duy trì tăng trưởng tích cực. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), đến giữa tháng 3, lượng gạo xuất khẩu sang thị trường này đạt khoảng 900.000 tấn và có thể đạt 2 triệu tấn trong nửa đầu năm nếu xu hướng thuận lợi.
Nhu cầu nhập khẩu lớn của Philippines xuất phát từ việc nguồn cung nội địa thiếu hụt sau thời gian tạm ngừng nhập khẩu. Bên cạnh đó, gạo Việt Nam vẫn giữ lợi thế cạnh tranh nhờ giá hợp lý và chi phí logistics thấp.
Tuy nhiên, thị trường này cũng đang điều chỉnh chính sách theo hướng nhập khẩu linh hoạt theo từng tháng, thay vì ký hợp đồng dài hạn. Điều này buộc doanh nghiệp Việt Nam phải thích ứng, tăng cường quản trị rủi ro và đa dạng hóa thị trường. Trong khi đó, Trung Quốc có xu hướng tăng nhập khẩu nhờ giá cạnh tranh, còn thị trường châu Phi duy trì nhu cầu nhưng chưa phục hồi mạnh do tồn kho cao.
Áp lực lớn nhất hiện nay đến từ nguồn cung toàn cầu, khi Ấn Độ, quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới quay trở lại thị trường, làm thay đổi cán cân cung – cầu và kéo giá giảm. Bộ Công Thương nhận định, trong bối cảnh này, ngành gạo cần chuyển từ trạng thái “ứng phó” sang “chủ động thích ứng”, linh hoạt điều chỉnh chiến lược thị trường, tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do và nâng cao năng lực dự báo.
Chuyển dịch sang phân khúc chất lượng cao
Về dài hạn, chuyển dịch sang phân khúc chất lượng cao, phát thải thấp đang trở thành xu hướng tất yếu. Đây không chỉ là yêu cầu từ thị trường mà còn là cơ hội nâng cao giá trị hạt gạo Việt.
Chia sẻ tại Hội thảo “Thúc đẩy xây dựng thương hiệu nông sản phát thải thấp - Hướng tới nông nghiệp xanh và giảm phát thải” diễn ra mới đây, PGS.TS. Bùi Bá Bổng, Chủ tịch Hiệp hội ngành hàng lúa gạo Việt Nam (VIETRISA), nhấn mạnh, giá trị gia tăng của gạo Việt vẫn chưa tương xứng với tiềm năng do sản xuất còn phụ thuộc vào phương thức truyền thống, tiêu tốn tài nguyên và phát thải cao.
Trong bối cảnh đó, mô hình “gạo Việt xanh, phát thải thấp” đang được thúc đẩy, đặc biệt tại Đồng bằng sông Cửu Long, vùng sản xuất trọng điểm của cả nước. Các giải pháp như giảm lượng giống gieo sạ, áp dụng tưới ướt - khô xen kẽ, giảm phân bón hóa học, hạn chế thuốc bảo vệ thực vật và quản lý rơm rạ theo hướng kinh tế tuần hoàn đang được triển khai. Những giải pháp này không chỉ giúp giảm chi phí sản xuất từ 8 - 24%, mà còn tăng thu nhập cho nông dân và giảm đáng kể phát thải khí nhà kính.
Đáng chú ý, một số doanh nghiệp đã được cấp quyền sử dụng nhãn hiệu “Gạo Việt xanh, phát thải thấp” và xuất khẩu ra thị trường quốc tế, bước đầu tạo dựng hình ảnh mới cho gạo Việt. Tuy nhiên, việc xây dựng thương hiệu vẫn đối mặt nhiều thách thức như quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, chi phí chuyển đổi cao và nhận thức của người dân chưa đồng đều.
Để phát triển bền vững, các chuyên gia cho rằng cần hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, mở rộng vùng nguyên liệu, tăng cường liên kết chuỗi và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong truy xuất nguồn gốc. Bên cạnh đó, vai trò của Nhà nước trong hỗ trợ chính sách, tài chính và xúc tiến thương mại là yếu tố then chốt để đưa gạo Việt tham gia sâu hơn vào các thị trường cao cấp.
PGS.TS. Bùi Bá Bổng nhận định, trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, xuất khẩu gạo Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ từ tăng trưởng về lượng sang nâng cao chất lượng và giá trị. Nếu tận dụng tốt cơ hội từ xu hướng tiêu dùng xanh, cùng với điều hành linh hoạt và sự chủ động của doanh nghiệp, ngành lúa gạo hoàn toàn có thể củng cố vị thế và phát triển bền vững trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Việt Nam không những xuất khẩu gạo lớn, mà còn tiên phong trong sản xuất gạo phát thải thấp. Khi câu chuyện này được củng cố bằng dữ liệu, tiêu chuẩn và sản lượng đủ lớn, giá trị gia tăng sẽ không đến từ việc bán nhiều hơn, mà từ việc bán khác đi.
Nguyễn Hạnh
3 giờ trước
9 giờ trước
14 giờ trước
2 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
5 ngày trước
5 ngày trước
5 ngày trước
5 ngày trước
1 giờ trước
25 phút trước
24 phút trước
4 phút trước
9 phút trước
15 phút trước
17 phút trước
21 phút trước
21 phút trước