🔍
Chuyên mục: Lao động - Việc làm

Cần cơ chế phòng ngừa sớm các tranh chấp đầu tư quốc tế

2 giờ trước
Các thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhấn mạnh việc thay đổi tư duy từ giải quyết sang chủ động phòng ngừa các tranh chấp đầu tư quốc tế, thông qua các biện pháp như: cơ chế cảnh báo sớm; cơ chế đánh giá rủi ro bắt buộc với các hợp đồng trước khi ký kết; hạn chế xung đột giữa luật trong nước và luật nước ngoài...

Sáng 19/3, tiếp tục chương trình Phiên họp thứ 55, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Vũ Hồng Thanh, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến đối với dự thảo Nghị quyết về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế.

Nhiều cơ chế đặc thù đối với Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế

Trình bày Tờ trình, Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Hải Ninh cho biết dự thảo Nghị quyết gồm 6 chương, 22 điều, quy định về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù bảo đảm nguồn lực cho phòng ngừa, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế; tổ chức và hoạt động của Trung tâm phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế.

Đối tượng áp dụng của Nghị quyết sẽ bao gồm cả cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân liên quan đến việc phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, không chỉ giới hạn ở các Bộ, ngành thuộc Chính phủ.

Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Hải Ninh trình bày Tờ trình tóm tắt dự thảo Nghị quyết. (Ảnh: DUY LINH)

Về nội dung phối hợp trong phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế, dự thảo quy định phối hợp trong tham mưu đề xuất ban hành chính sách pháp luật, ký và chấp thuận các cam kết quốc tế, xúc tiến thu hút đầu tư nước ngoài; giải quyết phản ánh, kiến nghị, khiếu nại của nhà đầu tư nước ngoài kịp thời, thống nhất, đúng thẩm quyền, phù hợp với pháp luật và điều ước quốc tế.

Về nội dung phối hợp trong giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, dự thảo Nghị quyết xác định cơ quan chủ trì và phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm phối hợp trong giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế.

Trong đó, cơ quan chủ trì là đầu mối quản lý, điều phối và chịu trách nhiệm toàn diện (tiếp nhận thông tin, tổ chức thương lượng, làm đầu mối liên lạc với nhà đầu tư và cơ quan tài phán, xây dựng chiến lược, lựa chọn luật sư, trọng tài viên, tham gia tố tụng và tổ chức thi hành phán quyết).

Cơ quan đại diện pháp lý sẽ hỗ trợ chuyên môn, xây dựng danh sách chuyên gia, đào tạo nâng cao năng lực, tư vấn và phối hợp thực hiện chiến lược. Ngoài ra, các cơ quan liên quan sẽ phối hợp chặt chẽ, cung cấp thông tin, tài liệu, nhân sự kịp thời và chịu trách nhiệm toàn diện trong quá trình giải quyết tranh chấp.

Dự thảo Nghị quyết cũng đề cập các cơ chế chính sách đặc thù chưa được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành thuộc thẩm quyền Quốc hội đối với Trung tâm phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế và người làm việc tại Trung tâm.

Quang cảnh phiên họp. (Ảnh: DUY LINH)

Theo đó, về nguồn thu, Trung tâm được ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên; được thu từ việc cung cấp dịch vụ tư vấn, hỗ trợ pháp lý cho các tổ chức, doanh nghiệp trong phòng ngừa, giải quyết tranh chấp quốc tế; được nhận các nguồn viện trợ, tài trợ theo quy định của pháp luật.

Về các nhiệm vụ chi, Trung tâm được áp dụng các cơ chế chính sách đặc biệt theo quy định về khoán chi bảo đảm nâng cao chất lượng nhân lực, thuê chuyên gia tư vấn, hoạt động ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi số theo Nghị quyết 197 của Quốc hội.

Về chế độ lao động, được ký hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật với mức lương theo quy định của Bộ trưởng Tư pháp tương xứng với nhiệm vụ được giao và phù hợp với mặt bằng tiền lương trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế trên thị trường lao động, nhưng không quá 100 lần mức lương cơ sở.

Về chính sách đãi ngộ, viên chức của Trung tâm có vị trí việc làm về phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, công chức được điều động đến làm việc tại Trung tâm được hưởng phụ cấp tăng thêm hằng tháng bằng 100% mức lương hiện hưởng. Ngoài ra, trong thời gian trực tiếp tham gia giải quyết vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế, theo quyết định của Bộ trưởng Tư pháp, còn được hưởng phụ cấp tăng thêm hằng tháng không quá 300% mức lương hiện hưởng.

Dự thảo Nghị quyết cũng có quy định chi tiết đối với cán bộ làm công tác phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế tại các Bộ, ngành, địa phương.

Rà soát để bảo đảm tương xứng giữa chức năng, nhiệm vụ với cơ chế đặc thù

Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Tài chính nêu rõ, đa số ý kiến Thường trực Ủy ban tán thành sự cần thiết ban hành Nghị quyết theo trình tự, thủ tục rút gọn nhằm thể chế hóa chủ trương của Bộ Chính trị và Ban Chỉ đạo Trung ương, tạo cơ sở pháp lý chủ động phòng ngừa, cảnh báo sớm tranh chấp đầu tư quốc tế, bảo đảm thực hiện cam kết quốc tế và bảo vệ lợi ích quốc gia.

Thường trực Ủy ban đề nghị nghiên cứu, báo cáo cấp có thẩm quyền đối với các nội dung về thành lập Trung tâm phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế; chế độ, chính sách đối với người làm công tác phòng ngừa, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế; và các cơ chế, chính sách tại dự thảo Nghị quyết có nội dung chưa phù hợp với Luật Bảo vệ bí mật nhà nước.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi nêu quan điểm thẩm tra. (Ảnh: DUY LINH)

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi cho biết, theo quy định hiện hành, Bộ Tư pháp là cơ quan đại diện pháp lý của Chính phủ trong giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế. Trung tâm phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế là đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ Tư pháp.

Do đó, nhiều ý kiến đề nghị cân nhắc việc quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn và cơ chế hoạt động của Trung tâm ngay trong Nghị quyết; trường hợp cần thiết chỉ nên quy định nguyên tắc chung và giao Chính phủ quy định chi tiết, bảo đảm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và tính linh hoạt trong tổ chức thực hiện.

Về chính sách đặc thù đối với nhân sự làm công tác phòng ngừa, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, hiện dự thảo Nghị quyết đang thiết kế cơ chế tài chính, nhân sự ở mức đặc thù cao, trong khi chức năng của Trung tâm chủ yếu là nghiên cứu, tư vấn, đào tạo, hỗ trợ chuyên môn; đồng thời trách nhiệm chủ trì xử lý tranh chấp chủ yếu thuộc các bộ, ngành, địa phương.

Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị rà soát để bảo đảm tương xứng giữa chức năng, nhiệm vụ với cơ chế đặc thù, trường hợp cần thiết chỉ quy định nguyên tắc, không ấn định mức cụ thể (100 lần) trong Nghị quyết của Quốc hội do là nội dung thuộc thẩm quyền quản lý, điều hành của Chính phủ.

Cần thay đổi tư duy từ giải quyết sang chủ động phòng ngừa

Thảo luận về dự thảo Nghị quyết, một trong những nội dung được các thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhấn mạnh là tư duy "phòng bệnh hơn chữa bệnh". Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho rằng, để bảo vệ quyền lợi quốc gia trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, Việt Nam cần một hành lang pháp lý đủ mạnh, không chỉ dừng lại ở các biện pháp hành chính mà phải tiếp cận theo tiêu chuẩn quốc tế.

Theo Chủ nhiệm Hoàng Thanh Tùng, cần thay đổi tư duy từ giải quyết sang chủ động phòng ngừa. Dẫn chiếu khuyến nghị mới nhất của Ủy ban Luật Thương mại Quốc tế Liên Hợp Quốc, Chủ nhiệm Hoàng Thanh Tùng chỉ rõ hai lỗ hổng cần quan tâm:

Cơ chế đánh giá rủi ro bắt buộc: Cần hình thành quy trình đánh giá tác động và rủi ro tranh chấp đối với tất cả các hợp đồng, thỏa thuận đầu tư trước khi ký kết. Đây là bộ lọc quan trọng để ngăn chặn hệ lụy pháp lý từ sớm.

Thiết lập đầu mối xử lý khiếu nại tập trung: Thay vì cơ chế phân tán, "đúng thẩm quyền thì làm, không đúng thì chuyển" như hiện nay, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp cho rằng cần một cơ quan đầu mối chuyên nghiệp để tiếp nhận và giải quyết các vướng mắc ban đầu của nhà đầu tư thông qua hòa giải, tránh để mâu thuẫn leo thang thành tranh chấp quốc tế.

Phó Chủ tịch Quốc hội Trần Quang Phương phát biểu ý kiến. (Ảnh: DUY LINH)

Đồng tình với quan điểm này, Phó Chủ tịch Quốc hội Trần Quang Phương khẳng định "vấn đề quan trọng là nhấn mạnh phòng ngừa hơn xử lý", đồng thời thẳng thắn chỉ ra rằng, nếu không có cơ chế phòng ngừa tốt, chúng ta sẽ liên tục rơi vào thế yếu.

Để hiện thực hóa điều này, Phó Chủ tịch Quốc hội đề xuất 4 trụ cột cho khung pháp lý phòng ngừa, đó là: minh bạch hóa Luật Đầu tư (đặc biệt là các quy định liên quan đến đầu tư nước ngoài); hạn chế xung đột pháp luật (giảm thiểu tối đa sự chồng chéo giữa luật trong nước và luật nước ngoài); đối xử công bằng (luật pháp không được mơ hồ để tránh bị nhà đầu tư lợi dụng khởi kiện); cơ chế cảnh báo sớm (thành lập đầu mối quốc gia để theo dõi và đánh giá rủi ro từ các dự án FDI ngay từ giai đoạn đầu).

VĂN TOẢN

TIN LIÊN QUAN


























Home Icon VỀ TRANG CHỦ