Cách mạng Tháng Tám và bài học cho công tác ngoại giao
Tháng Tám năm 1945, trước những diễn biến rất nhanh chóng của tình hình trong nước và thế giới ảnh hưởng đến Việt Nam, ngày 13/8/1945, ngay khi hay tin Nhật chuẩn bị đầu hàng Đồng minh, tại Hội nghị toàn quốc họp tại Tân Trào (Tuyên Quang), Đảng ta đã quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trong cả nước trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương. Hội nghị nhấn mạnh: “Tình thế vô cùng khẩn cấp. Tất cả mọi người đều phải nhằm vào những việc chính: Thống nhất - thống nhất về mọi phương diện quân sự, chính trị, hành động, không bỏ lỡ cơ hội”.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. (Ảnh tư liệu)
Mốc son chói lọi
Quốc dân đại hội họp tại Tân Trào trong hai ngày 16 và 17/8/1945, sau khi tán thành và thông qua quyết định Tổng khởi nghĩa, thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Trong thư kêu gọi đồng bào sau khi Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam được thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta... Chúng ta không thể chậm trễ”…
Ngày 19/8/1945 trong khi Hồng quân Liên Xô đánh tan đạo quân Quan Đông thì tại Hà Nội, cuộc Tổng khởi nghĩa thắng lợi, chính quyền về tay nhân dân. Cách mạng Tháng Tám đã khép lại gần một thế kỷ đô hộ của thực dân Pháp và 5 năm cai trị của phát xít Nhật. Đây không chỉ là một thắng lợi chính trị, mà còn là sự giải phóng toàn diện của một dân tộc khỏi ách nô lệ kép. Từ thân phận thuộc địa, nhân dân Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập và làm chủ vận mệnh của mình.
Thắng lợi ấy bắt nguồn từ sự sáng suốt của Hồ Chủ tịch, Đảng ta và Mặt trận Việt Minh trong việc chớp lấy thời cơ ngàn năm có một. Sự thần kỳ ấy không đến từ vũ khí tối tân hay quân đội hùng hậu mà từ niềm tin mãnh liệt vào chính nghĩa và sự đoàn kết của toàn dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ ba tại trụ sở Bộ Ngoại giao (từ 16/12/1963-16/1/1964). (Ảnh tư liệu)
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một mốc son chói lọi trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Trong bối cảnh Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, những bài học lịch sử đúc kết từ Cách mạng Tháng Tám vẫn còn nguyên giá trị lý luận, thực tiễn và có tính thời sự sâu sắc. Đặc biệt là những bài học cho công tác ngoại giao và nền ngoại giao nước nhà.
Ngay sau khi chính quyền cách mạng ra đời, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã gấp rút tổ chức bộ máy nhà nước thống nhất, ban hành các văn bản chính trị - pháp lý để khẳng định chủ quyền quốc gia. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân và thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”. Đây chính là hành vi pháp lý - chính trị thể hiện quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam, đồng thời là tuyên bố đầu tiên để khẳng định tư cách chủ thể quốc tế của Nhà nước mới.
Điểm đặc biệt quan trọng trong Tuyên ngôn Độc lập là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn hai văn kiện nền tảng của nhân loại hiện đại: Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ (năm 1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp (năm 1789).
Câu mở đầu “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” đã cho thấy Người định vị cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong dòng chảy tư tưởng chính trị tiến bộ toàn cầu, đồng thời gửi thông điệp rõ ràng tới các quốc gia phương Tây, đặc biệt là Mỹ, Pháp, rằng Việt Nam có đầy đủ cơ sở đạo lý và pháp lý để được công nhận nền độc lập.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đoàn cán bộ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (tháng 3/1966). (Ảnh tư liệu)
Kế thừa, phát triển và thích ứng linh hoạt trong bối cảnh mới
Tuyên ngôn Độc lập cũng là văn kiện mở đầu cho truyền thống ngoại giao chính nghĩa của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thay vì dựa trên sức mạnh vũ lực, Việt Nam giành sự công nhận quốc tế thông qua lập luận dựa trên công lý, nhân đạo và lẽ phải. Đây là một trong những bài học quan trọng mà ngành Ngoại giao Việt Nam áp dụng cho đến hôm nay và sẽ tiếp tục trong mai sau, đó là “lấy chính nghĩa làm nền tảng, lấy đối thoại làm phương pháp, lấy quyền dân tộc và tiến bộ nhân loại làm cơ sở thuyết phục quốc tế”.
Những giá trị cốt lõi của ngành Ngoại giao Việt Nam được hình thành từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến hôm nay vẫn tiếp tục được kế thừa, phát triển và thích ứng linh hoạt trong bối cảnh mới. Đó là một nền ngoại giao mang bản sắc riêng, vừa cách mạng, vừa hiện đại; vừa mềm dẻo, vừa kiên cường; vừa nhân văn, vừa thực chất, xứng đáng là một trụ cột quan trọng trong thế trận bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, bằng sức mạnh tổng hợp của thời đại. Trong đó, phải kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện và hiệu quả.

Những giá trị cốt lõi của ngành Ngoại giao Việt Nam được hình thành từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến hôm nay vẫn tiếp tục được kế thừa, phát triển và thích ứng linh hoạt trong bối cảnh mới. (Nguồn: VGP)
Đây là nguyên tắc bất biến trong điều kiện biến động, là “ngọn cờ tư tưởng” của ngoại giao Việt Nam hiện nay. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định: Kiên định nguyên tắc độc lập, tự chủ về đường lối đối ngoại; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, hiệu quả; vì lợi ích quốc gia - dân tộc. Việt Nam không chọn phe, không lệ thuộc, kiên trì “bốn không” trong quốc phòng và đối ngoại, đồng thời tích cực tham gia các sáng kiến toàn cầu.
Trên tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, khát khao giành độc lập cho đất nước, tự do cho nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã chủ động xây dựng đường lối, tạo dựng lực lượng cách mạng cho Việt Nam.
Khẳng định “cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới”, nhưng quan điểm chỉ đạo của Người là không thụ động, “ngồi chờ”, mà chủ trương tích cực xây dựng lực lượng cách mạng, phát huy “nội lực” là sức mạnh của toàn dân tộc: “Đem sức ta mà giải phóng cho ta”. Đây cũng là bài học kinh nghiệm quý cần tiếp tục áp dụng trong giai đoạn hiện nay.
Đại tá, nhà báo Đỗ Phú Thọ
1 giờ trước
5 phút trước
31 phút trước
2 giờ trước
10 phút trước
11 phút trước
14 phút trước
14 phút trước
16 phút trước
22 phút trước
23 phút trước
24 phút trước
28 phút trước
29 phút trước
30 phút trước
32 phút trước