🔍
Chuyên mục: Thời sự

Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng phát triển

13 giờ trước
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc đã trở thành các nguyên tắc cơ bản trong chiến lược thực hiện đường lối, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa 54 dân tộc, tạo thành khối đoàn kết thống nhất, đưa cách mạng nước ta giành được những thắng lợi to lớn.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng, đoàn kết, tương trợ nhau giữa các dân tộc

Hiểu biết sâu sắc tình hình các dân tộc trên thế giới nói chung, các dân tộc phương Đông nói riêng, đặc biệt trong một quốc gia đa dân tộc như ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận ra các dân tộc ở nước ta có sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt chính sách “chia để trị” của thực dân, đế quốc đã làm rạn nứt mối quan hệ đoàn kết, gắn bó giữa các dân tộc nhằm thực hiện âm mưu, thủ đoạn thâm độc của chúng.

Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn quan tâm và thực hành triệt để quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Tại Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số (DTTS) Việt Nam ngày 3/12/1945, Người nói: “Anh em thiểu số của chúng ta sẽ được: Dân tộc bình đẳng. Chính phủ sẽ bãi bỏ hết những điều lệ cũ, bao nhiêu bất bình (sự không bình đẳng) trước sẽ sửa chữa đi”.

Thực tế được khẳng định bằng việc bà con các DTTS nước ta tin tưởng tuyệt đối vào chính sách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng bào đã vượt qua mọi gian khổ, hi sinh hăng hái tham gia cách mạng trong những năm kháng chiến trường kì chống thực dân Pháp, vùng đồng bào các DTTS đã trở thành căn cứ cách mạng vững chắc bảo vệ Đảng, bảo vệ Bác Hồ.

Trong Báo cáo về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kì họp thứ 11 Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 18/12/1959, Người nêu rõ: “Nước ta là một nước thống nhất gồm nhiều dân tộc. Các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ”.

Trong bài nói tại Hội nghị cán bộ phụ nữ miền núi ngày 17/3/1964, Người khẳng định: “Từ ngày cách mạng thành công, kháng chiến thắng lợi, Đảng và Chính phủ đã làm cho gái trai bình quyền, các dân tộc bình đẳng”...

Cũng như tư tưởng bình đẳng, tư tưởng đoàn kết dân tộc ra đời, bắt nguồn từ thực tiễn cuộc sống đọa đầy của người dân mất nước. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn kết không phải là thủ đoạn mà đoàn kết là thật thà, chân thành, chặt chẽ; đoàn kết không phải là áp đặt, bắt buộc mà là phải có dân chủ thật sự; đoàn kết không phải là sách lược, mà là chiến lược, lâu dài.

Nói chuyện với đồng bào tỉnh Yên Bái, ngày 25/9/1958, Người nêu rõ: “Trước kia bọn thực dân phong kiến chia rẽ chúng ta, chia rẽ các dân tộc để chúng áp bức bóc lột chúng ta. Nay chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ. Ví dụ: 10 dân tộc ở tỉnh nhà như 10 ngón tay. Nếu xòe 10 ngón tay mà bẻ từng ngón, như thế có dễ bẻ không? Nếu nắm chặt cả 10 ngón tay thì có bẻ được không? Đó là... tại sao phải đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc”.

Trong buổi nói chuyện với nhân dân, bộ đội, cán bộ tại Yên Châu, Sơn La ngày 8/5/1959, Người nói: “cũng như một bó que, từng cái một, có thể bẻ gãy. Bây giờ đoàn kết lại thế này, có ai bẻ gãy được không? Đồng bào phải đoàn kết chặt chẽ như nắm tay này”.

Người cũng từng viết trong thư gửi Đại hội các DTTS miền Nam tại Pleiku, ngày 9/4/1946: “Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt”.

Trong nhiều bài nói và bài viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề tương trợ, giúp đỡ nhau giữa các dân tộc. Người nhắc nhở, căn dặn cán bộ Quân, Dân, Chính, Đảng phải luôn thương yêu Nhân dân các dân tộc, quan tâm thường xuyên đến đời sống các dân tộc, làm việc gì cũng phải nghĩ đến lợi ích của các dân tộc.

Khi thăm và làm việc với đồng bào và cán bộ tỉnh Cao Bằng ngày 21/2/1961, Người nói: “Đồng bào các dân tộc không phân biệt lớn nhỏ, phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, phải đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà để cùng nhau xây dựng Tổ quốc chung xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho tất cả các dân tộc được hạnh phúc ấm no”.

Người không ngừng nhắc nhở dân tộc đa số và các DTTS, cũng như giữa các DTTS với nhau phải coi nhau như đồng bào, anh em ruột thịt, trong cùng một nhà, phải giúp đỡ lẫn nhau, no đói có nhau, đồng cam cộng khổ.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc không phải hình thành ngay một lúc, mà trải qua một quá trình được bổ sung, hoàn thiện, nâng cao để ngày nay trở thành một bộ phận cấu thành, một nét độc đáo bậc nhất trong di sản tư tưởng mà Người để lại cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển

Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.... Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”.

Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm thực hiện nhất quán chính sách dân tộc theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Bình đẳng đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc” nhằm đổi mới nội dung, phương pháp, biện pháp tổ chức thực hiện chính sách dân tộc, nhất là việc triển khai thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng các nhiệm kì suốt 95 năm từ ngày thành lập đến nay.

Văn kiện đại hội Đảng lần thứ XIII đã khẳng định: “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển. Chú trọng tính đặc thù của từng vùng đồng bào DTTS trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc”.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, Bộ Chính trị, đã ban hành các Nghị quyết chuyên đề về phát triển vùng trong đó có đông đồng bào DTTS sinh sống như: Nghị quyết số 11-NQ/TW, Nghị quyết số 26-NQ/TW, Nghị quyết số 23-NQ/TW… về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh một số vùng, miền đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng đoàn Quốc hội, Quốc hội khóa XIV đã ban hành Nghị quyết số 88/2019/QH14 và Nghị quyết số 120/2020/QH14, ngày 19/6/2020: Phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2030.

Mục tiêu thực hiện Chương trình là: “Thu hẹp dần khoảng cách về mức sống, thu nhập của vùng đồng bào DTTS và miền núi so với bình quân chung của cả nước; đến năm 2025 giảm 50% số xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn; đến năm 2030 cơ bản không còn xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn”.

Tổng nguồn vốn thực hiện giai đoạn 2021-2025, tối thiểu là 137.664 tỉ VND, trong đó: ngân sách trung ương: 104.954 tỉ VND; ngân sách địa phương: 10.016 tỉ đồng; vốn tín dụng chính sách: 19.727 tỉ VND; vốn huy động hợp pháp khác: 2.967 tỉ VND, nhằm đầu tư có trọng tâm, trọng điểm và bền vững, tập trung cho các xã, thôn, bản khó khăn nhất; giải quyết các vấn đề bức xúc, cấp bách nhất; ưu tiên hỗ trợ hộ nghèo, các nhóm DTTS khó khăn nhất. Bảo đảm công khai, dân chủ, phát huy quyền làm chủ và sự tham gia tích cực, chủ động của cộng đồng và người dân; phát huy tinh thần nỗ lực vươn lên của đồng bào DTTS.

Việc triển khai thực hiện đồng bộ 3 Chương trình mục tiêu quốc gia: (i) Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025, (ii) Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025, (iii) Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2025.

Các chương trình mục tiêu quốc gia với các chương trình, dự án, chính sách đầu tư vùng đồng bào DTTS và miền núi có ý nghĩa quan trọng, góp phần khai thác tiềm năng, lợi thế của các địa phương vùng DTTS và miền núi, thúc đẩy phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội; thu hẹp dần khoảng cách về mức sống, thu nhập bình quân của vùng so với bình quân chung của cả nước; giảm dần số xã, thôn đặc biệt khó khăn; góp phần phát triển toàn diện giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo đảm an ninh biên giới quốc gia; củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc, nâng cao niềm tin của đồng bào các dân tộc đối với Đảng và Nhà nước.

Việc Quốc hội ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia với sự đầu tư lớn cho vùng đồng bào DTTS và miền núi trong khi ngân sách quốc gia còn hạn hẹp đã thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong việc thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc, các vùng miền. Trên cơ sở hướng dẫn và yêu cầu của Trung ương, các tỉnh/thành được thụ hưởng chương trình đã kịp thời ban hành các văn bản triển khai các cơ chế chính sách, hướng dẫn và đôn đốc triển khai thực hiện các chương trình.

Ở các địa phương dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, sự quản lý của chính quyền, sự tham gia phối hợp của Mặt trận và các tổ chức đoàn thể các cấp, cùng sự nỗ lực, cố gắng của đồng bào các DTTS, đã tạo nên bước chuyển biến khá căn bản trong phát triển kinh tế - xã hội, làm thay đổi từng bước diện mạo nông thôn miền núi, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các DTTS như: 98,4% xã có đường ô tô đến trung tâm xã; 100% xã được tiếp cận với điện lưới quốc gia; tỉ lệ hộ gia đình được sử dụng điện đạt 93,9%; mạng điện thoại, sóng phát thanh, truyền hình, mạng Internet đã phát triển không còn xa lạ đối với vùng đồng bào các dân tộc.

Các tiện nghi sinh hoạt của hộ gia đình đồng bào DTTS đã được cải thiện, nhiều hộ gia đình có ti vi, đài (radio, radio casetts), máy vi tính (máy bàn, laptop), điện thoại cố định, di động, máy tính bảng… Trong đó, ti vi đã trở thành một loại thiết bị sinh hoạt phổ biến của các hộ gia đình đồng bào DTTS ở cả khu vực nông thôn và thành thị, với 81,5% hộ gia đình có sử dụng.

Tỉ lệ hộ gia đình đồng bào DTTS có sử dụng điện thoại cố định, di động, máy tính bảng là 92,5%. Tỉ lệ hộ gia đình đồng bào DTTS sử dụng tủ lạnh là 54,5%; tỉ lệ hộ sử dụng điều hòa là 6,6%. Tỉ lệ các hộ gia đình đồng bào DTTS có phương tiện mô tô, xe gắn máy, xe đạp điện, xe máy điện đạt 89,1%. Tỉ lệ hộ sử dụng ô tô đạt 2,1%.

Thực tiễn đó đã minh chứng cho việc hệ thống chính trị các cấp triển khai hiệu quả các nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhất là nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc.

Hiện nay, ở các địa phương có tới 98,4% xã có đường ô tô đến trung tâm xã; 100% xã được tiếp cận với điện lưới quốc gia; tỉ lệ hộ gia đình được sử dụng điện đạt 93,9%; mạng điện thoại, sóng phát thanh, truyền hình, mạng Internet đã phát triển không còn xa lạ đối với vùng đồng bào các dân tộc.

Nguyễn Mạnh Quang

TIN LIÊN QUAN

































Home Icon VỀ TRANG CHỦ