Bước đi dài hơi cho hàng Made in Vietnam'
Giới hạn của làng nghề
Các thương hiệu thủ công Việt và nhiều nhà sáng tạo đang góp phần khơi dậy làn sóng tôn vinh bản sắc dân tộc thông qua thủ công mỹ nghệ và trang phục truyền thống. Từ họa tiết cung đình, hoa văn thổ cẩm đến những sản phẩm mang dấu ấn làng nghề, khát vọng xây dựng những sản phẩm "Made in Vietnam" bằng chính chất liệu Việt ngày càng rõ nét. Tuy nhiên, giữa mong muốn và thực tế vẫn còn một khoảng cách. Năng lực cung ứng trong nước chưa thể đáp ứng đầy đủ mọi yêu cầu về nguyên liệu, kỹ thuật và quy mô sản xuất, khiến nhiều thương hiệu phải linh hoạt kết hợp cả nguồn cung trong và ngoài nước.
Với nhiều năm tham gia nghiên cứu, cố vấn và thiết kế trang phục cho các dự án phim điện ảnh, truyền hình lấy bối cảnh lịch sử Việt Nam, anh Nguyễn Văn Hiệu, Trưởng Bộ phận Nghiên cứu và Phát triển sản phẩm Công ty cổ phần Văn hóa Nghệ thuật Vạn Thiên Y, hiểu rõ những giới hạn của chuỗi cung ứng nguyên liệu trong nước. Từ thực tiễn làm nghề, anh chia sẻ: "Dĩ nhiên, chúng tôi rất mong muốn làm một bộ phim người Việt dùng hàng Việt, nhưng đó vẫn là điều còn xa vời với chúng ta hiện nay”.

Chuyên gia Nguyễn Văn Hiệu thiết kế tạo hình cổ trang cho diễn viên
Theo anh Hiệu, chính lĩnh vực điện ảnh và truyền hình lấy bối cảnh lịch sử là minh chứng rõ nét cho những giới hạn của chuỗi cung ứng nguyên liệu và sản phẩm thủ công hiện nay. Mỗi dự án thường chỉ cần vài trăm bộ trang phục, nhưng lại đòi hỏi độ chính xác rất cao về chất liệu, kỹ thuật dệt, màu nhuộm và hoa văn theo từng giai đoạn lịch sử. Chuyên gia Nguyễn Văn Hiệu thiết kế tạo hình cổ trang cho diễn viên
Ngay cả với quy mô không quá lớn nói trên, nguồn cung trong nước vẫn chưa thể đáp ứng đầy đủ một số chất liệu và kỹ thuật dệt đặc thù. Thực tế đó cho thấy các làng nghề vẫn còn nhiều dư địa để nâng cao năng lực sản xuất nhằm đáp ứng những yêu cầu ngày càng đa dạng của thị trường, từ lĩnh vực điện ảnh, công nghiệp văn hóa đến trang phục truyền thống.
Dù vậy, Việt Nam vẫn có nền tảng vững chắc với các làng nghề tơ lụa, mây tre và nhiều nghề thủ công truyền thống. Những chất liệu tự nhiên như lụa Nam Cao, Nha Xá hay Mã Châu hoàn toàn có thể đáp ứng nhu cầu sản xuất ở quy mô vài trăm bộ trang phục. Tuy nhiên, khi cần các loại vải khổ rộng, chất lượng nhuộm đồng đều hoặc những hoa văn dệt có độ phức tạp cao, năng lực hiện nay vẫn còn hạn chế
"Các loại vải trong nước không thể dệt được những loại hoa văn quá cầu kỳ hoặc rất đặc thù như hoa văn dệt vàng, dệt bạc hay dệt gấm", anh Hiệu cho biết. Đây đều là những kỹ thuật từng được sử dụng phổ biến trong trang phục cung đình. Trong lịch sử, khi cần thực hiện những đồ án đặc biệt phức tạp, triều đình Việt Nam cũng từng đặt dệt theo mẫu tại Trung Quốc.

Nhiều bộ phim lấy cảm hứng từ lịch sử góp phần lan tỏa giá trị văn hóa Việt
Bởi vậy, để bảo đảm tiến độ sản xuất và chất lượng thành phẩm, nhiều thương hiệu hiện nay lựa chọn kết hợp nguồn nguyên liệu trong nước với nguồn cung từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan... Đặc biệt, với các dòng gấm hoặc hoa văn dệt tinh xảo, đây vẫn là giải pháp phù hợp trong điều kiện hiện nay.
"Việt Nam nằm cạnh những trung tâm sản xuất nguyên liệu quy mô lớn của khu vực. Trong điều kiện nguồn cung trong nước chưa đáp ứng đầy đủ mọi yêu cầu, việc sử dụng một phần nguyên liệu nhập khẩu là lựa chọn khó tránh khỏi. Trong nhiều trường hợp, nguồn cung này vừa bảo đảm chất lượng, vừa có mức giá hợp lý", anh Hiệu phân tích.
Toàn cầu hóa chuỗi cung ứng
Ở góc độ nghiên cứu, nhà nghiên cứu Cao Trung Vinh của Viện Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam, cho rằng việc sử dụng nguồn nguyên liệu quốc tế trong sản phẩm thủ công không phải là hiện tượng mới, mà là kết quả của quá trình phát triển sản xuất, đặc biệt từ sau thời kỳ Đổi mới. Phần lớn làng nghề Việt Nam vốn hình thành trên nền tảng sản xuất nhỏ lẻ. Khi thị trường mở rộng và nhu cầu tiêu dùng tăng nhanh, nhiều làng nghề bắt đầu đối mặt với bài toán thiếu hụt nguyên liệu.
Làng lụa Vạn Phúc là một ví dụ. Trước những năm 1990, vùng dâu tằm dọc sông Hồng từ Hà Nam đến Nam Định (Ninh Bình ngày nay) rất rộng lớn nhưng vẫn không đủ đáp ứng nhu cầu khi thị trường phát triển. Đây cũng là tình trạng chung của nhiều làng nghề trong giai đoạn chuyển từ sản xuất quy mô nhỏ sang phục vụ thị trường rộng lớn hơn.

Giá trị văn hóa tạo nên bản sắc và sức cạnh tranh của hàng Việt
Trước sức ép đó, các cộng đồng làng nghề đã lựa chọn những cách thích ứng khác nhau. Làng dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp (Khánh Hòa) của người Chăm là một ví dụ về hướng đi chủ động đổi mới. Từ nhiều năm trước, địa phương này đã đưa máy móc vào sản xuất. Hiện nay, nhiều hộ dệt hoàn toàn bằng máy, giúp nâng cao năng suất, giảm giá thành và tạo nguồn cung ổn định. Nhờ vậy, trang phục truyền thống vẫn được người dân ở nhiều thế hệ sử dụng thường xuyên trong đời sống hằng ngày.
Trong khi đó, một số cộng đồng ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên vẫn ưu tiên duy trì phương thức dệt thủ công. Mỗi bộ trang phục, vì thế, cần nhiều thời gian và công sức để hoàn thiện. Trong nhiều gia đình, mỗi người chỉ có một bộ trang phục truyền thống, còn trang sức bạc được gìn giữ và truyền lại qua nhiều thế hệ. Cách làm này góp phần bảo tồn kỹ thuật thủ công, nhưng cũng khiến khả năng mở rộng nguồn cung gặp nhiều hạn chế.
Giữa hai cách tiếp cận đó, không ít cộng đồng đã tìm được hướng dung hòa. Như một số bản làng người Dao sử dụng vải nhập khẩu nhưng vẫn thực hiện toàn bộ công đoạn thêu, trang trí và hoàn thiện theo kỹ thuật truyền thống. Điều họ coi trọng không chỉ là xuất xứ của nguyên liệu, mà là việc sản phẩm cuối cùng vẫn thể hiện được hoa văn, ngôn ngữ tạo hình và bản sắc văn hóa của cộng đồng.
Theo nhà nghiên cứu Cao Trung Vinh, những lựa chọn này phản ánh xu hướng chung của chuỗi cung ứng trong bối cảnh toàn cầu hóa. Hiện nay, rất ít chuỗi cung ứng được hình thành hoàn toàn trong phạm vi một quốc gia. Điều quan trọng không nằm ở việc nguyên liệu có hoàn toàn được sản xuất trong nước hay không, mà ở chỗ sản phẩm được sáng tạo, định hình giá trị và kể câu chuyện văn hóa của Việt Nam. Đó cũng là hướng đi để các thương hiệu Việt vừa gìn giữ bản sắc, vừa thích ứng với thị trường toàn cầu.
Khi hàng Việt bị chèn ép ngay trên sân nhà
Thực tế, tại không ít hội chợ và phiên chợ tôn vinh sản phẩm Việt, hàng công nghiệp giá rẻ từ nước ngoài vẫn len lỏi dưới lớp vỏ truyền thống. Từ trang phục đến đồ thủ công mỹ nghệ, nhiều sản phẩm nhập khẩu được giới thiệu như hàng thủ công Việt, khiến ranh giới giữa sản phẩm truyền thống và hàng công nghiệp ngày càng trở nên mờ nhạt trong mắt người tiêu dùng.

Sáng tạo là chìa khóa nâng tầm sản phẩm mang thương hiệu Việt
Trong đánh giá của anh Nguyễn Văn Hiệu, đây không chỉ là câu chuyện gian lận thương mại mà còn trực tiếp thu hẹp không gian phát triển của các thương hiệu Việt làm nghề nghiêm túc. Hệ quả đầu tiên là uy tín của sản phẩm thủ công chân chính bị ảnh hưởng. Xa hơn, điều này làm giảm động lực sáng tạo của nghệ nhân và các nhà thiết kế khi sản phẩm làm thủ công khó có thể cạnh tranh về giá thành, tốc độ hay sản lượng với hàng nhập khẩu. "Làm đến đâu cũng không thể tốt hơn, rẻ hơn, sản xuất nhanh hơn, sản lượng cao hơn so với việc nhập hàng từ bên kia biên giới", anh Hiệu chia sẻ.
Anh Hiệu từng đề xuất cải tiến các sản phẩm quạt giấy, quạt sừng bằng cách bổ sung họa tiết và mẫu mã mới để công sức chế tác tương xứng với giá trị sản phẩm. Tuy nhiên, không phải cơ sở nào cũng sẵn sàng thay đổi. Từ thực tiễn đồng hành cùng các làng nghề, anh nhận thấy khoảng cách không chỉ nằm ở sự cạnh tranh của hàng giá rẻ mà còn ở việc nhiều cơ sở sản xuất chưa theo kịp nhu cầu của người tiêu dùng hiện nay.
Trong quá trình làm việc, nhiều lần anh Hiệu nghe các nghệ nhân chia sẻ: "Chúng tôi đã làm mẫu mã này hàng chục năm nay, có làm sao đâu, sao tự dưng lại phải đổi mới làm gì?". Trong khi nghề thủ công đòi hỏi sự tỉ mỉ và bền bỉ, thị trường công nghiệp văn hóa lại vận động rất nhanh, buộc sản phẩm phải liên tục được làm mới.
Cả anh Nguyễn Văn Hiệu cùng nhà nghiên cứu Cao Trung Vinh đều cho rằng để thu hẹp khoảng cách này cần sự thay đổi từ cả hai phía. Các thương hiệu và doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa cần xây dựng thị trường ổn định, tạo đầu ra lâu dài cho làng nghề thay vì chỉ đặt hàng theo từng thời điểm. Ngược lại, các làng nghề cũng cần được hỗ trợ để mạnh dạn đổi mới mẫu mã, phương thức sản xuất và tư duy phát triển, bên cạnh việc giữ gìn những giá trị cốt lõi.
Nguyệt Linh
2 giờ trước
26 phút trước
21 phút trước
49 phút trước
2 phút trước
12 phút trước
17 phút trước
19 phút trước
30 phút trước
40 phút trước
42 phút trước
44 phút trước
48 phút trước