🔍
Chuyên mục: Văn hóa

“Bòng bong” và “khóc bối bòng bong”

1 giờ trước
Hai chữ “bòng bong” xuất hiện cả trong thành ngữ và tục ngữ Việt Nam. Về thành ngữ thì có câu Rối như bối bòng bong. Còn tục ngữ thì điển hình là câu Mồ cha chẳng khóc khóc đống mối; mồ mẹ chẳng khóc khóc bối bòng bong.

Vậy “bòng bong” ở đây là gì? Tục ngữ Mồ cha chẳng khóc khóc đống mối; mồ mẹ chẳng khóc khóc bối bòng bong được hiểu ra sao?

Hầu hết các cuốn từ điển tiếng Việt đều giảng bòng bong ở đây là xơ tre vót ra bị cuốn rối lại; thường dùng để ví tình trạng rối ren. Riêng Từ điển tục ngữ Việt (Nguyễn Đức Dương) lại cho rằng “bối bòng bong” là “búi xơ vót ra từ các đôi đũa tre cắm trên bát cơm cúng đặt trên quan tài người mới chết”.

Thực ra các nhà biên soạn từ điển đã nhầm lẫn hai loại bòng bong với nhau.

Thứ nhất: Phoi tre nứa cũng gọi là “bòng bong” nhưng nó thường ngắn, dễ gỡ rời. Có câu Rối như búi bòng bong cơ mà! Còn những chiếc đũa tre được vót thành xơ lua tua, cắm trên bát cơm cúng, gọi là ‘đũa bông’ chứ không phải ‘bòng bong'. Vả lại, những sợi xơ vót ra từ đầu đũa, tuy cong tít, nhưng một đầu vẫn dính vào chiếc đũa, xơ nào ra xơ ấy, tức vẫn có đầu mối, chứ đâu có rối?

Vậy bòng bong ở đây là gì?

“Bòng bong” trong thành ngữ, tục ngữ là một loại dây leo hay mọc ở các bụi rậm, màu nâu, mảnh như sợi miến mà dai, quấn nhằng nhịt vào nhau. Sách Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi) chép về loại “bòng bong” này như sau: “THÒNG BONG 長葉海金沙 [trường diệp hải kim sa – tác giả phiên âm] còn gọi là bòng bong, dương vong, thạch vĩ dây. Tên khoa học Lygodium flexuosum Sw. Thuộc họ Thòng bong Schizaeaceae”. Sách này tiếp tục mô tả: “Thòng bong là một loại quyết có hiệp rất dài, mọc leo. Thân rễ bò, lá dài (...). Mọc phổ biến ở các bụi rậm, bờ rào. Thu hái gần như quanh năm...”. “Quyết” là nhóm thực vật có thân, rễ, lá thật sự, nhưng không có hoa, sinh sản bằng bào tử; “hiệp” ở đây là các nhánh dây leo.

Ở thôn quê, người đi kéo tép đồng thường bứt những sợi dây bòng bong phủ lên trên chiếc rá đựng tép. Mục đích là khi hất tép từ chiếc te vào rá, thì tép vẫn lọt xuống bởi các kẽ hở của búi bòng bong nhưng lại không nhảy ra được do vướng búi bòng bong nhằng nhịt kia. Nông dân còn dùng cả búi lớn bòng bong cuộn tròn lại để cọ rửa dụng cụ cày bừa hoặc kì cọ, tắm rửa cho trâu sau buổi cày. Sợi bòng bong dai, dài, đan quấn vào nhau thành cái búi cọ rửa rất bền, tiện lợi, dùng lâu dần thì đen bóng.

Sách Ngạn ngữ phong dao (Nguyễn Can Mộng) ghi nhận dị bản “Mồ cha không khóc khóc đống mối, mồ mẹ không khóc khóc bối thòng bong”. Như vậy, thòng bong ở đây đích thị là dây leo trong tự nhiên chứ không phải “bòng bong” là phoi tre nứa vót ra. Và phải là bòng bong/ thòng bong thì sợi nó mới dài, đan quấn chằng chịt giống như sợi chỉ hay sợi tơ rối không biết đầu mối nào mà gỡ. Đây chính là lí do Việt Nam tự điển (Lê Văn Đức) giảng “bòng bong” là một loại thực vật, và ghi nhận “Việc rối như bòng bong; Chỉ rối như bòng bong”.

Trở lại với câu tục ngữ Mồ cha chẳng khóc khóc đống mối; mồ mẹ chẳng khóc khóc bối bòng bong.

Về nghĩa đen, cái tổ mối đùn nó lùm lùm gần giống như một nấm mồ vô chủ; còn cái bụi rậm nhằng nhịt những búi/bối bòng bong cũng tựa như một ngôi mộ bị thất lạc, lâu ngày hóa hoang rậm. Nếu hiểu như Nguyễn Đức Dương rằng “bòng bong” là “búi xơ vót ra từ các đôi đũa tre cắm trên bát cơm cúng đặt trên quan tài người mới chết”, thì cảnh tượng ấy lại diễn ra ngay bên quan tài, nơi con cháu đang than khóc, chứ không thể tạo nên hình ảnh đối lập với “mồ cha” như trong câu tục ngữ.

Còn nếu hiểu “bòng bong là đám xơ tre vót ra và rối” như cách giải thích của GS Nguyễn Lân, thì “đám xơ tre” ấy thường được phơi ngoài sân, hè cho khô để nhóm bếp, chẳng có lí nào lại nhầm với “mộ” của ai đó bị thất lạc.

Thực tế xưa kia do hoàn cảnh khó khăn, chiến tranh, loạn lạc hoặc trải qua nhiều đời, mộ phần của cha ông thường bị thất lạc, mất dấu tích. Bởi vậy nhiều trường hợp, người ta phải nhờ vào “thầy” đi tìm mộ, hoặc tự đi tìm mộ. Với thầy bói, thầy địa lí, đôi khi muốn cho xong việc cứ chỉ đại vào đống mối hay bụi bòng bong rậm rạp nào đó giông giống cái mộ để gia chủ lấy đó hương khói, khấn vái. Có những mộ phần tổ tiên bị mưa gió bào mòn, mất dấu, không xác định được vị trí chính xác. Khi thấy đống mối đùn hoặc cái gò cao cây cối rậm rạp ở gần khoảng đất nhớ mang máng thì cứ ngỡ đó chính là mộ tổ tiên. Sau một thời gian hương khói, khấn vái, đến khi tình cờ (như dời chuyển mộ, cải táng) mới té ngửa là lâu nay “khóc đống mối”, “khóc bối bòng bong”.

Về nghĩa bóng, tục ngữ thường được dùng để mỉa mai, chê cười, phê phán thói “thấy người sang bắt quàng làm họ”, nhận lầm nguồn gốc, họ hàng. Cũng ám chỉ kiểu “thương vay, khóc mướn”, thương xót không phải lối, dành tình cảm xót thương cho đối tượng không xứng đáng, không liên quan gì đến huyết thống hay quan hệ họ hàng với mình, trong khi đó, tổ tiên, dòng tộc của mình thì lại không quan tâm, để ý.

Hoàng Trinh Sơn (CTV)



















Home Icon VỀ TRANG CHỦ