🔍
Chuyên mục: Đào tạo - Thi cử

Bộ GD-ĐT lý giải việc giảm nguyện vọng, siết học bạ tuyển sinh 2026

9 giờ trước
Trước những điều chỉnh đáng chú ý trong dự thảo Quy chế tuyển sinh đại học năm 2026 như giảm số lượng nguyện vọng đăng ký, siết điều kiện xét tuyển học bạ và giới hạn số phương thức xét tuyển, GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học - Bộ GD-ĐT đã có những lý giải cụ thể khi trao đổi với PV Báo Đại biểu Nhân dân.

GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Giáo dục Đại học, Bộ GD-ĐT. Ảnh: Xuân Quý

Bảo đảm các nguyên tắc công bằng, khách quan, minh bạch

- Xin ông cho biết tổng thể về những sửa đổi, bổ sung của Quy chế tuyển sinh trình độ đại học các ngành đào tạo và tuyển sinh trình độ cao đẳng Giáo dục Mầm non mà Bộ đang lấy ý kiến?

GS.TS Nguyễn Tiến Thảo: Như chúng ta biết, Nghị quyết 71-NQ/TW ngày 22 tháng 8 năm 2025 của Bộ Chính trị chỉ ra: “Giáo dục đại học là nòng cốt phát triển nhân lực trình độ cao, nhân tài, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo” và “Đổi mới tuyển sinh đại học theo hướng đánh giá đúng năng lực người học, bảo đảm kiểm soát thống nhất chuẩn đầu vào của các ngành đào tạo”. Cùng với đó, Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15 quy định việc tuyển sinh phải bảo đảm nguyên tắc công bằng, khách quan, công khai, minh bạch, có lộ trình phù hợp khi điều chỉnh, bảo đảm quyền lợi của người dự tuyển.

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy chế tuyển sinh các trình độ của giáo dục đại học. Đây là cơ sở chính trị và cơ sở pháp lý quan trọng để sửa đổi, bổ sung Quy chế tuyển sinh trình độ đại học các ngành đào tạo và tuyển sinh trình độ cao đẳng Giáo dục Mầm non theo hướng tuyển chọn đúng người học, kiểm soát và nâng cao chất lượng đầu vào.

Do đó, những nội dung điều chỉnh của Quy chế từ nguồn tuyển, phương thức xét tuyển, kiểm soát đầu vào toàn diện hơn, bảo đảm các nguyên tắc công bằng, khách quan, minh bạch, giảm chi phí và tiết kiệm cho xã hội, giảm áp lực, gắn quyền lợi và trách nhiệm của thí sinh tham gia xét tuyển, tăng cường tự chủ và tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục đại học; về tổng thể hướng tới sự ổn định và bền vững trong công tác tuyển sinh. Dự thảo đang được lấy ý kiến các chuyên gia, các nhà khoa học, các cơ sở đào tạo và các bộ, ngành liên quan.

Vì sao lại “siết” xét tuyển học bạ?

- Trong dự thảo Quy chế tuyển sinh, quy định phương thức xét tuyển kết quả học tập cấp THPT (học bạ): tổ hợp xét tuyển sử dụng điểm trung bình chung kết quả học tập 06 học kỳ (lớp 10, 11, 12) cấp THPT của tối thiểu 03 môn học, trong đó bắt buộc phải có môn Toán hoặc Ngữ văn với trọng số tính điểm xét không thấp hơn 1/3 của tổng điểm theo thang điểm 30. Thí sinh sử dụng phương thức này phải có tổng điểm ba môn thi tốt nghiệp THPT tương ứng tổ hợp xét tuyển (hoặc điểm thi của môn Toán, môn Ngữ văn và một môn khác) đạt tối thiểu 16 theo thang điểm 30. Tại sao lại cần quy định như vậy?

GS.TS Nguyễn Tiến Thảo: Trước hết, chúng ta phải thừa nhận rằng xét tuyển bằng kết quả học tập cấp THPT, hay ta vẫn thường gọi là xét học bạ, đã tồn tại hơn 10 năm qua. Phương thức này luôn chiếm khoảng 40% tổng số thí sinh trúng tuyển và trong thời gian qua chủ yếu dựa trên kết quả học tập của học sinh lớp 12. Dự thảo Quy chế hiện nay thực hiện đúng chủ trương đánh giá toàn diện quá trình học tập của học sinh thông qua kết quả học tập đủ ba năm cấp THPT.

Thêm vào đó, phương thức này bổ sung thêm điều kiện cần là học sinh phải đạt 16 điểm cho 3 môn trong tổ hợp xét tuyển (hoặc điểm môn Toán, môn Ngữ văn và một môn thi khác). Điều này bảo đảm thí sinh không lơ là học tập năm lớp 12, bởi trong thiết kế chương trình THPT, kiến thức lớp 12 là kiến thức nền tảng quan trọng, kết nối với khối kiến thức cơ bản của các ngành đào tạo bậc đại học.

Quy định này không chỉ giúp học sinh học tập nghiêm túc lớp 12, sẵn sàng cho kỳ thi tốt nghiệp mà còn giúp thí sinh có hành trang vững chắc khi trúng tuyển và khả năng hoàn thành tốt chương trình đào tạo bậc đại học. Mức điểm 16 cũng là mức điểm mà phần lớn thí sinh có thái độ và trách nhiệm sẽ đạt được trong kỳ thi tốt nghiệp, bảo đảm nguồn tuyển đủ ngưỡng chất lượng cho các trường đại học tuyển sinh và xa hơn nữa là hướng tới mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực đạt chỉ số 260 sinh viên trên 1 vạn dân của một quốc gia phát triển theo lộ trình tiến tới năm 2030.

Cơ sở đào tạo sử dụng tối đa 05 phương thức tuyển sinh

- Tại sao dự thảo lần này đề xuất cơ sở đào tạo sử dụng tối đa 05 phương thức tuyển sinh (thi tuyển, xét tuyển hoặc kết hợp giữa thi tuyển với xét tuyển), không bao gồm phương thức xét tuyển thẳng?

GS.TS Nguyễn Tiến Thảo: Qua kết quả thống kê hằng năm, chúng tôi nhận thấy có khoảng gần 20 phương thức tuyển sinh được các trường đại học sử dụng trong thời gian qua. Tuy nhiên, khoảng 90% thí sinh trúng tuyển bằng phương thức sử dụng điểm thi tốt nghiệp THPT và xét tuyển bằng kết quả học tập cấp THPT hoặc kết hợp đồng thời thi tuyển và xét tuyển học bạ. Một số phương thức tuyển sinh trong nhiều năm có rất ít thí sinh sử dụng hoặc trúng tuyển nhưng lại gây ra sự rối rắm cho phụ huynh và thí sinh khi tìm hiểu về tuyển sinh đại học, gây lãng phí sức người, sức của.

Với mục tiêu đơn giản hóa phương thức tuyển sinh, tăng cường cải cách thủ tục hành chính và để thí sinh, phụ huynh hiểu đúng, dễ tiếp cận các phương thức tuyển sinh của cơ sở giáo dục đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất cơ sở đào tạo sử dụng tối đa 05 phương thức tuyển sinh, không bao gồm phương thức xét tuyển thẳng. Việc này đã được thảo luận và lấy ý kiến các đại diện cơ sở đào tạo tại các buổi tọa đàm xây dựng dự thảo Quy chế tuyển sinh và nhận được sự đồng thuận cao.

Với 05 phương thức xét tuyển (chưa bao gồm phương thức tuyển thẳng) đã bao phủ trên 95% thí sinh trúng tuyển trong thời gian qua; việc giảm số phương thức không chỉ có tác động lớn đến quá trình đơn giản hóa tuyển sinh mà còn tiết kiệm chi phí, minh bạch hóa và tạo sự công bằng hơn cho các thí sinh.

Thí sinh cần lưu ý những điểm mới thay đổi trong Quy chế tuyển sinh đại học 2026. Ảnh: Xuân Quý

Số thí sinh trúng tuyển và nhập học ở nguyện vọng lớn hơn 10 là vô cùng thấp

-Cũng trong nhóm nội dung điều chỉnh về phương thức tuyển sinh, số lượng nguyện vọng của thí sinh cũng giảm còn 10 nguyện vọng trong một đợt tuyển sinh so với không giới hạn nguyện vọng trước đây. Các chương trình đào tạo giáo viên chỉ xét tuyển thí sinh đăng ký ở các nguyện vọng có thứ tự từ 01 đến 03. Xin ông cho biết ý nghĩa của việc điều chỉnh này.

GS.TS Nguyễn Tiến Thảo: Theo dõi kết quả thí sinh trúng tuyển trong thời gian qua, chúng tôi nhận thấy thí sinh trúng tuyển ở nguyện vọng 1 chiếm 35,1%; thí sinh trúng tuyển ở nguyện vọng dưới 10 chiếm 98,5%. Số thí sinh xét tuyển ở các đợt bổ sung chiếm hơn 1,0%. Như vậy, số thí sinh trúng tuyển và nhập học ở nguyện vọng lớn hơn 10 là vô cùng thấp.

Tại Hội nghị Giáo dục đại học năm 2025 vừa qua, phần lớn các trường đại học đề xuất giới hạn nguyện vọng đăng ký từ 1–5 cho mỗi thí sinh. Qua phân tích số liệu và bảo đảm cơ hội học tập của học sinh theo cách thức xét tuyển hiện nay, trong đó tất cả thí sinh được xét chọn bình đẳng dựa trên điểm xét theo từng phương thức xét tuyển mà không phụ thuộc thứ tự ưu tiên của nguyện vọng đăng ký, đề xuất 10 nguyện vọng cho mỗi đợt xét tuyển của một thí sinh là hợp lý. Việc điều chỉnh này góp phần tiết kiệm chi phí cho thí sinh, rút ngắn thời gian xét tuyển và đồng thời đòi hỏi thí sinh phải tìm hiểu nghiêm túc hơn về ngành nghề đào tạo, đặc biệt là việc xác định ngành học phù hợp với năng lực, sở trường của bản thân.

Đối với các chương trình đào tạo giáo viên được Nhà nước hỗ trợ ngân sách đào tạo, thí sinh cần xác định rõ ràng mục tiêu nghề nghiệp thông qua việc đặt các nguyện vọng ưu tiên từ 1–3. Việc này cũng làm giảm áp lực cho các trường đại học sư phạm trong việc xác định chính xác số lượng sinh viên nhập học hưởng ngân sách và xác định vị trí công tác sau khi tốt nghiệp.

Thí sinh không được cộng quá 3 điểm

-Dự thảo Quy chế năm nay có điều chỉnh về điểm xét thưởng, điểm khuyến khích, trong đó điểm thành phần của từng điểm cộng (điểm xét thưởng, điểm khuyến khích) tối đa 1,50 điểm theo thang điểm 30 và tổng điểm cộng không quá 3 điểm. Xin ông thông tin rõ hơn về nội dung này.

GS.TS Nguyễn Tiến Thảo: Một học sinh có nhiều năng lực, sở trường khác nhau, nên công việc tuyển sinh là làm sao tuyển đúng và tuyển trúng người dự tuyển theo học ngành đào tạo mong muốn. Theo đó, Quy chế tuyển sinh vẫn duy trì mức điểm cộng để “thêm” vào điểm xét (điểm thi hoặc điểm học bạ) của thí sinh nhưng không vượt quá 3 điểm theo thang điểm 30. Điểm cộng là tổng các điểm thành phần.

Thành phần thứ nhất là điểm thưởng áp dụng cho đối tượng là các học sinh đạt danh hiệu học sinh giỏi quốc gia, đội tuyển thi Olympic quốc tế. Những học sinh này được tuyển thẳng vào các ngành đào tạo theo kết quả môn thi nhưng không sử dụng quyền tuyển thẳng; khi đó có thể được cộng điểm thưởng từ 0–3 điểm (tùy theo kết quả nhất, nhì, ba) theo thang điểm 30. Thành phần thứ hai là điểm xét thưởng áp dụng đối với thí sinh có thành tích hoặc có năng khiếu đặc biệt.

Thành phần thứ ba là điểm khuyến khích đối với thí sinh có chứng chỉ ngoại ngữ hoặc có chứng chỉ quốc tế (nếu có). Điểm cộng của điểm thành phần thứ hai hoặc thứ ba nằm trong dải từ 0–1,5 điểm theo thang điểm 30.

Chứng chỉ ngoại ngữ chỉ được cộng điểm tối đa 1,5

-Hằng năm vẫn có một tỷ lệ nhất định thí sinh sử dụng chứng chỉ ngoại ngữ để xét tuyển hoặc được cộng điểm xét tuyển đại học. Chính sách này có gì điều chỉnh trong dự thảo Quy chế năm nay không, thưa ông?

GS.TS Nguyễn Tiến Thảo: Việc sử dụng các chứng chỉ ngoại ngữ trong tuyển sinh đại học bắt đầu từ năm 2017 đến nay. Ngoại ngữ là một trong những yêu cầu chuẩn đầu ra của hầu hết các chương trình đào tạo bậc đại học. Nhiều thí sinh đã không thể tốt nghiệp đại học đúng thời hạn vì không đạt được chuẩn đầu ra ngoại ngữ của chương trình đào tạo. Trong giai đoạn hội nhập quốc tế, ngoại ngữ vẫn là một công cụ quan trọng trong học tập và mở ra cơ hội nghề nghiệp sau tốt nghiệp. Do đó, việc duy trì xét tuyển bằng chứng chỉ ngoại ngữ trong tuyển sinh đại học là yêu cầu khách quan.

Dự thảo Quy chế tuyển sinh lần này điều chỉnh theo hướng khai thác được năng lực ngoại ngữ của thí sinh và bảo đảm nguyên tắc công bằng trong xét tuyển. Tổ hợp xét tuyển sử dụng kết quả các môn thi tốt nghiệp THPT hoặc kết quả học bạ có dùng chứng chỉ ngoại ngữ thì cơ sở đào tạo quy đổi kết quả chứng chỉ ngoại ngữ thành điểm môn ngoại ngữ trong tổ hợp môn xét tuyển, với trọng số tính điểm xét môn ngoại ngữ không vượt quá 1/3 của tổng điểm theo thang điểm 30. Chứng chỉ ngoại ngữ chỉ được dùng trong quy đổi điểm môn ngoại ngữ hoặc chỉ được sử dụng cho điểm thưởng.

Từ năm 2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ ban hành hướng dẫn quy đổi kết quả chứng chỉ ngoại ngữ thống nhất sử dụng trong toàn hệ thống. Chứng chỉ ngoại ngữ chỉ được dùng một lần, hoặc thay thế môn ngoại ngữ hoặc được cộng điểm tối đa 1,5.

-Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư!

Nhật Hồng

TIN LIÊN QUAN



























Home Icon VỀ TRANG CHỦ