🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Biến động địa chính trị, nông nghiệp tìm đường thích ứng

1 giờ trước
Biến động địa chính trị toàn cầu khiến chuỗi cung ứng và thương mại nông sản đối mặt nhiều rủi ro. Tuy nhiên, đây cũng là cơ hội để tái cấu trúc ngành theo hướng xanh, bền vững và nâng cao giá trị gia tăng.

Xung đột Trung Đông đang tạo áp lực lớn lên chi phí sản xuất, logistics và xuất khẩu nông sản

Chủ động kịch bản tăng trưởng trong dài hạn và năm 2026

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kịch bản tăng trưởng giai đoạn 2026-2030 được xây dựng với mục tiêu đóng góp tích cực vào tăng trưởng hai con số của nền kinh tế. Ngành hướng tới phát triển bền vững theo mô hình xanh, sinh thái, giảm phát thải, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn.

Một số chỉ tiêu đáng chú ý gồm: tốc độ tăng trưởng GDP toàn ngành đạt 3,6%/năm, phấn đấu 4%/năm; kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tăng 8-12%/năm; thu nhập cư dân nông thôn tăng 2,5-3 lần so với năm 2020; tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới trên 65% vào năm 2030. Đồng thời, ngành đặt mục tiêu giảm 8-9% lượng phát thải khí nhà kính so với kịch bản phát triển thông thường, duy trì độ che phủ rừng 42% và mở rộng khu bảo tồn biển đạt tối thiểu 6% diện tích vùng biển quốc gia.

Riêng năm 2026 – năm đầu thực hiện kế hoạch 5 năm, ngành đặt mục tiêu tăng trưởng 3,7%, phấn đấu đạt 4%. Trong đó, nông nghiệp tăng 3,86% (trồng trọt 2,5-2,75%; chăn nuôi 5,2-5,5%), thủy sản tăng 4,42% và lâm nghiệp tăng 5,51%. Kim ngạch xuất khẩu toàn ngành dự kiến đạt 73-74 tỷ USD. Kết quả sản xuất và xuất khẩu hai tháng đầu năm cho thấy những tín hiệu tích cực, tạo nền tảng cho việc hoàn thành mục tiêu đề ra.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp nhận định, xung đột tại Trung Đông đang tạo ra nhiều tác động đa chiều, trước hết là làm đứt gãy chuỗi cung ứng, đẩy chi phí logistics và năng lượng tăng cao, từ đó gây áp lực lên chi phí sản xuất nông nghiệp.

Cụ thể, chi phí sản xuất toàn ngành được dự báo tăng khoảng 3-5%. Giá phân bón trên thị trường quốc tế có thể tăng 5-15%, trong khi thức ăn chăn nuôi đã tăng 1,5-2% do phụ thuộc lớn vào nguyên liệu nhập khẩu như ngô, khô đậu tương, lúa mì. Dù thuốc bảo vệ thực vật chưa chịu tác động trực tiếp, nhưng nguy cơ tăng giá trong trung hạn là hiện hữu nếu xung đột kéo dài.

Ở khâu xuất khẩu, cước vận tải biển đã tăng 25-35%, thời gian vận chuyển kéo dài thêm 7-14 ngày, ảnh hưởng rõ nét đến các mặt hàng tươi sống như thủy sản, rau quả. Nhiều lô hàng bị chậm giao, tăng chi phí bảo quản hoặc đối mặt nguy cơ bị từ chối.

Một số ngành hàng chịu tác động mạnh hơn do phụ thuộc vào thị trường Trung Đông, như điều (chiếm khoảng 11% kim ngạch xuất khẩu ngành) hay hồ tiêu (khoảng 10%). Ngoài ra, việc gián đoạn tuyến vận tải qua Biển Đỏ – kênh đào Suez còn ảnh hưởng dây chuyền tới xuất khẩu sang châu Âu và Bắc Phi.

Dù vậy, với kim ngạch xuất khẩu sang Trung Đông năm 2025 đạt trên 1,74 tỷ USD, chiếm khoảng 2-2,2% tổng kim ngạch toàn ngành, tác động trực tiếp được đánh giá là không quá lớn. Tuy nhiên, tác động gián tiếp thông qua chi phí, logistics và nhu cầu thị trường toàn cầu là đáng lưu ý.

Giải pháp cấp bách: Giữ ổn định sản xuất và xuất khẩu

Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng ba kịch bản ứng phó, tương ứng với thời gian xung đột kéo dài 1 tháng, 3 tháng và 1 năm. Trong mỗi kịch bản, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản sẽ suy giảm ở các mức độ khác nhau, chủ yếu do gián đoạn thương mại với Trung Đông, châu Âu và Bắc Phi.

Tuy nhiên, trong thách thức cũng mở ra cơ hội để ngành tái cấu trúc theo hướng nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu và đa dạng hóa thị trường, đặc biệt là thị trường Halal. Đồng thời, đây cũng là thời điểm để củng cố năng lực nội tại, sẵn sàng bứt phá khi thị trường ổn định trở lại.

Trước mắt, Bộ xác định ưu tiên ổn định chi phí đầu vào, đặc biệt là phân bón và xăng dầu, nhằm duy trì sản xuất. Các cơ chế dự trữ, thu mua lúa gạo sẽ được triển khai khi giá xuống thấp để bảo vệ lợi ích người nông dân.

Cùng với đó, việc thiết lập hệ thống cảnh báo sớm về rủi ro logistics, tăng cường cập nhật thông tin an ninh hàng hải tại Vùng Vịnh, Biển Đỏ và kênh đào Suez sẽ giúp doanh nghiệp chủ động điều chỉnh kế hoạch sản xuất, xuất khẩu.

Các biện pháp hỗ trợ tài chính như giãn nợ, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, mở rộng tín dụng lưu động cũng được đề xuất nhằm giúp doanh nghiệp duy trì dòng tiền. Đồng thời, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, tận dụng các hiệp định thương mại tự do để mở rộng thị trường sang Đông Á, Nam Á, EU và châu Mỹ Latinh.

Về lâu dài, theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp, ngành tập trung cơ cấu lại sản xuất theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, phát triển nông nghiệp xanh, hữu cơ và tuần hoàn. Việc xây dựng vùng nguyên liệu lớn, ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số và phát triển logistics nông nghiệp được coi là những trụ cột then chốt.

Song song đó, cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm ít nhất 30% thời gian và chi phí thực hiện thủ tục sẽ tạo môi trường thuận lợi hơn cho doanh nghiệp và người dân. Việc xây dựng sàn giao dịch nông sản quốc gia cũng được nghiên cứu nhằm kết nối thị trường hiệu quả hơn.

Ngành cũng đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, trí tuệ nhân tạo và viễn thám trong quản lý sản xuất, giám sát môi trường, dự báo dịch bệnh và tối ưu hóa canh tác, qua đó giảm chi phí và nâng cao hiệu quả.

Để bảo đảm hoàn thành mục tiêu năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho biết, Bộ Nông nghiệp và Môi trường kiến nghị Chính phủ và các bộ, ngành triển khai các gói hỗ trợ đủ mạnh về tín dụng, thuế, bảo hiểm nông nghiệp và xúc tiến thương mại.

Trong đó, đáng chú ý là đề xuất gói tín dụng 150.000 tỷ đồng với lãi suất thấp hơn 1-2% so với mức bình quân; giảm lãi suất cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp xuất khẩu; mở rộng hạn mức tín dụng và hỗ trợ xây dựng kho lạnh dự trữ.

Ngoài ra, các bộ, ngành liên quan cần phối hợp chặt chẽ trong việc mở cửa thị trường, xử lý tranh chấp thương mại, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp thích ứng với biến động thị trường quốc tế.

Hải Yến

TIN LIÊN QUAN

























Home Icon VỀ TRANG CHỦ