Bên trong bảo vật quốc gia gần 400 năm tuổi ở Hưng Yên

Chùa Keo (Thần Quang tự) tọa lạc tại xã Vũ Tiên, tỉnh Hưng Yên, trước đây thuộc xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Theo tài liệu lưu giữ, chùa Keo được khởi công xây dựng từ năm 1630 và hoàn thành vào năm 1632. Trải qua gần 400 năm tồn tại, ngôi chùa trở thành một trong những công trình kiến trúc cổ tiêu biểu, mang đậm dấu ấn văn hóa và nghệ thuật kiến trúc truyền thống Việt Nam.

Khuôn viên chùa rộng khoảng 58.000 m², có 3 hồ lớn. Ban đầu, chùa có 21 công trình với 157 gian, đến nay còn 17 công trình với 128 gian.

Các hạng mục được bố trí theo lối kiến trúc “nội công, ngoại quốc”, tạo nên tổng thể hài hòa, cân đối.



Chùa phối thờ theo lối “tiền Phật, hậu Thánh“. Khu thờ Phật gồm Chùa ông Hộ, tòa thiêu hương và điện Phật. Phía trong là khu thờ Thánh Thiền sư Không Lộ. Ngoài ra, chùa còn bảo lưu được hàng trăm tượng Pháp và đồ tế lễ thời Lê.

Hiện chùa Keo lưu giữ nhiều bảo vật quốc gia. Trong ảnh là Bảo vật quốc gia Hương án chùa Keo là hiện vật gốc độc bản. Hương án được tạo tác thời Lê Trung Hưng, thế kỷ XVII, được công nhận bảo vật quốc gia năm 2021.

Ngoài bảo vật quốc gia Hương án, tại chùa Keo còn có hai cánh cửa chạm rồng (niên đại thế kỷ XVII), đặt ở cửa chính tam quan nội, được công nhận là bảo vật quốc gia năm 2017. Hiện nay, hai bộ cánh cửa gỗ này được các nghệ nhân phục dựng lại giống nguyên bản, được đặt tại chùa Keo. Còn bộ cánh cửa chính gốc đang được bảo quản, trưng bày trang trọng ngay tòa chính giữa của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.


Cảnh thanh tịnh tại chùa Keo.


Điều đặc biệt ở chùa Keo là phần lớn kết cấu kiến trúc được làm bằng gỗ lim. Các cấu kiện liên kết với nhau bằng hệ thống mộng gỗ, không sử dụng đinh kim loại để ghép nối. Dù vậy, công trình vẫn đứng vững hàng trăm năm.


Trên cột, vì kèo và các cấu kiện gỗ, nghệ nhân xưa chạm trổ nhiều hoa văn hình tượng rồng với những đường nét uốn lượn, đan quyện rất tinh xảo.

Theo các vị cao niên trong làng, tương truyền, để xây dựng chùa Keo, từ khâu chuẩn bị nguyên vật liệu đến khi hoàn thiện ngôi chùa mất tổng cộng 21 năm, trong đó có 19 năm chuẩn bị và 2 năm thi công. Gỗ được đưa về từ các vùng núi phía Bắc. Khi điều kiện vận chuyển còn nhiều khó khăn, người dân phải dùng thuyền, bè và sức kéo của trâu, ngựa để đưa gỗ về xuôi. Mỗi năm, lượng gỗ vận chuyển được không nhiều, phải tích lũy qua nhiều năm mới đủ nguyên liệu xây dựng.



Mái chùa lợp ngói vảy cá, các góc mái uốn cong, trang trí những hình tượng rồng, phượng và cá chép hóa rồng.

Nổi bật giữa quần thể di tích là tòa gác chuông cao hơn 11 m, gồm 3 tầng mái chồng lên nhau. Bộ khung gỗ lim được liên kết hoàn toàn bằng các mộng gỗ, nâng đỡ hệ thống 12 mái ngói với những đầu đao cong vút, tạo vẻ thanh thoát mà vẫn vững chãi.

Tháng 12/2007, gác chuông Chùa Keo được Kỷ lục Guinness Việt Nam xác lập là gác chuông bằng gỗ cao nhất Việt Nam.

Với giá trị nổi bật về lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật, chùa Keo đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt năm 2012.
Minh Đức - Vũ Quỳnh
2 giờ trước
3 giờ trước
1 giờ trước
3 giờ trước
5 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước