🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Bền bỉ giữ nghề dũa Đại Phu

1 giờ trước
Từng được mệnh danh là làng nghề "mài sắt thành vàng", làng dũa Đại Phu - nay thuộc thôn Mạnh Tiến, xã Bình Sơn - là một trong số ít làng nghề làm dũa thủ công còn tồn tại ở Việt Nam, có thời kỳ sản phẩm được xuất khẩu với số lượng lớn ra thị trường thế giới. Thế nhưng, trước những tác động của cơ chế thị trường và sự cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp, làng nghề từng vang bóng nay chỉ còn khoảng 12 hộ vẫn bền bỉ giữ nghề, giữ những giá trị truyền thống được hun đúc qua nhiều thế hệ.

Sản phẩm dũa Đại Phu góp phần làm nên danh tiếng của một làng nghề từng được mệnh danh là "mài sắt thành vàng".

Bền bỉ giữ nghề
Nghề dũa Đại Phu được hình thành từ những năm 40 của thế kỷ trước. Theo các bậc cao niên trong làng, người đặt nền móng cho nghề là cụ Vũ Khánh, một người thợ mộc gốc Đại Phu. Trong thời gian đi làm ăn xa, cụ có dịp thấy những người thợ mộc Nhật Bản sử dụng chiếc dũa để mài cưa. Từ đó, cụ mang ý tưởng về quê, miệt mài nghiên cứu, chế tạo chiếc dũa đầu tiên từ những thanh sắt bỏ đi.
Ban đầu, chiếc dũa chỉ được cụ Khánh xem là một công cụ phục vụ nghề mộc. Tuy nhiên, qua quá trình sử dụng, nhận thấy đây là vật dụng hữu ích trong lao động sản xuất, trong khi ở Việt Nam thời điểm đó chưa có ai làm ra sản phẩm này, cụ đã truyền lại kỹ thuật cho con cháu và vận động người dân trong làng cùng học nghề.
Từ những chiếc dũa ba cạnh còn thô sơ được rèn từ những thanh sắt tận dụng lấy từ các biệt thự Pháp trong vùng, với số lượng ít để dùng, dần dần người thợ Đại Phu không ngừng cải tiến kỹ thuật, chế tạo thêm nhiều chủng loại như: dũa dẹt, dũa tròn, dũa bán nguyệt… sản phẩm dần được đa dạng hoá và đem bán ra thị trường. Khi sản phẩm được thị trường đón nhận, các mối hàng ngày càng mở rộng, nghề làm dũa ở Đại Phu phát triển mạnh, trở thành sinh kế của nhiều hộ dân, tạo dựng danh tiếng cho một làng nghề thủ công truyền thống và mang lại cuộc sống khấm khá cho người dân địa phương.

Ông Dương Văn Hiệp, người có hơn 40 năm gắn bó với nghề dũa Đại Phu cho biết: Các sản phẩm của làng nghề đến nay vẫn gần như được chế tác hoàn toàn theo phương pháp thủ công truyền thống. Mỗi chiếc dũa phải trải qua nhiều công đoạn tỉ mỉ, đòi hỏi sự khéo léo, kinh nghiệm và tính chính xác cao của người thợ.
Nguyên liệu làm dũa chủ yếu gồm hai loại là: thép cây đặc chủng Y12A của Liên Xô (cũ) và các loại vòng bi đã qua sử dụng. Dụng cụ sản xuất tuy không cầu kỳ, chỉ gồm đe, búa, khuôn, dao băm, lò luyện, bễ rèn, máy mài cùng một số loại hóa chất để xử lý bề mặt, nhưng để tạo nên một chiếc dũa đạt chất lượng lại đòi hỏi quy trình nghiêm ngặt với sáu công đoạn chính: tạo phôi, tạo mặt phẳng, tạo răng, tôi luyện, kiểm hóa và đóng gói.

Công đoạn tạo răng dũa hiện được thực hiện bằng máy đối với các sản phẩm thông dụng, trong khi những sản phẩm yêu cầu kỹ thuật cao vẫn được người thợ băm răng hoàn toàn bằng tay.

Trong đó, tạo răng và tôi luyện là hai công đoạn quyết định chất lượng sản phẩm. Sau khi tạo phôi và mài phẳng bề mặt, người thợ dùng dao băm tạo từng hàng răng dũa bằng tay hoặc bằng máy. Theo các thợ làm dũa, răng dũa được băm thủ công luôn sắc, đều và có độ bám tốt hơn so với sản phẩm được tạo bằng máy. Vậy nên các sản phẩm dũa đòi hỏi kỹ thuật cao phải băm bằng tay. Tiếp đó là công đoạn tôi luyện, người thợ không đo nhiệt độ bằng máy mà chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, quan sát sự chuyển màu của thép để điều chỉnh thời gian, nhiệt độ phù hợp. Nếu tôi non, chiếc dũa sẽ nhanh mòn; còn tôi quá già, sản phẩm dễ giòn và gãy.
Từ đôi bàn tay khéo léo của người thợ Đại Phu, hàng trăm chủng loại dũa với nhiều hình dáng: tam giác, vuông, tròn, bán nguyệt, chữ nhật..., kích cỡ từ 1 đến 350 mm đã ra đời, phục vụ nhiều lĩnh vực từ cơ khí, mộc, sửa chữa đến chế tác mỹ nghệ, kim hoàn.

Chính chất lượng vượt trội cùng kỹ thuật chế tác thủ công tinh xảo đã tạo nên thương hiệu dũa Đại Phu, mở đường để làng nghề bước vào giai đoạn phát triển rực rỡ nhất. Theo ông Dương Quốc Tịch, Bí thư Chi bộ thôn Mạnh Tiến, đồng thời là thế hệ thứ ba trong gia đình gắn bó với nghề dũa Đại Phu cho biết: Từ năm 1957, nghề dũa ở địa phương đã bước vào giai đoạn phát triển hưng thịnh. Tới 90% hộ dân trong làng đều tham gia sản xuất, tạo nên một 'công xưởng' thủ công nhộn nhịp. Từ sáng sớm đến đêm khuya, khắp các ngõ xóm rộn ràng tiếng búa, tiếng đục răng dũa, tiếng mài thép hòa quyện thành âm thanh đặc trưng của một làng nghề sầm uất. Nhà nào cũng có từ 2 - 3 lò bễ nung đỏ lửa, người lớn, thanh niên đều làm dũa. Hàng làm ra đến đâu tiêu thụ hết đến đó. Cũng nhờ nghề dũa, Đại Phu là một trong những làng nghề đầu tiên được nối điện của huyện Bình Lục (trước sáp nhập) vào những năm 1959, 1960."
Không chỉ phục vụ thị trường trong nước, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, sản phẩm dũa Đại Phu đã được thực dân Pháp thu mua để đưa về chính quốc và một số thuộc địa phục vụ sản xuất công nghiệp. Đến thời kỳ bao cấp, đầu những năm 1980, nghề dũa bước vào giai đoạn cực thịnh khi liên tục nhận được nhiều đối tác nước ngoài xuất khẩu sang các nước Đông Âu như Ba Lan, Tiệp Khắc, Liên Xô, rồi tiếp tục mở rộng ra các nước ASEAN… ngành công nghiệp thế giới tin dùng dũa Đại Phu như một sản phẩm uy tín lâu đời. Các hợp tác xã hoạt động với hàng trăm lao động nhưng vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu xuất khẩu, mang về nguồn ngoại tệ đáng kể, đưa tên tuổi làng nghề Đại Phu vươn xa, tạo ra nhiều việc làm cho con em trong làng, trong xã thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế và làm thay đổi diện mạo quê hương.

Nghề làm dũa từng là niềm tự hào của người dân làng Đại Phu.

Ngày ấy, dũa Đại Phu cũng đã đăng ký tiêu chuẩn chất lượng và liên tiếp giành Huy chương Vàng tại Hội chợ Hàng tiểu thủ công nghiệp các năm 1980, 1981 và 1982, trở thành niềm tự hào của nhiều thế hệ người dân địa phương.

Trăn trở giữ nghề
Được công nhận là làng nghề truyền thống năm 2004, nghề làm dũa Đại Phu từng tiếp tục duy trì đà phát triển với sản lượng hơn 11 triệu sản phẩm bán ra mỗi năm. Tuy nhiên, khoảng 10 năm trở lại đây, làng nghề phải đối mặt với nhiều khó khăn khi thị trường thu hẹp, chi phí sản xuất tăng cao và lực lượng lao động ngày càng giảm. Từ hàng trăm hộ gắn bó với nghề trong thời kỳ hưng thịnh, đến nay ở thôn Mạnh Tiến chỉ còn khoảng 12 hộ vẫn bền bỉ giữ lửa nghề.

Theo những người thợ, một trong những nguyên nhân khiến nghề dũa ngày càng gặp khó là sự thay đổi trong nhu cầu sử dụng của thị trường. Nếu như trước đây, dũa là dụng cụ không thể thiếu của thợ mộc, thợ cơ khí và nhiều ngành nghề thủ công để mài cưa, mài dao, chỉnh sửa các chi tiết kim loại thì nay, phần lớn các công việc này đã được thay thế bằng máy mài và các thiết bị chuyên dụng. Khi những công cụ hiện đại ngày càng phổ biến, nhu cầu sử dụng dũa thủ công giảm đáng kể, kéo theo lượng đơn hàng của làng nghề cũng không còn dồi dào như trước.
Mặc dù vậy, sản phẩm dũa Đại Phu vẫn được khách hàng đánh giá cao về chất lượng, nhưng phần lớn các hộ sản xuất nơi đây hiện chủ yếu tiêu thụ thông qua các đầu mối thu mua nên thường xuyên bị ép giá. Trong khi đó, giá thép, than, điện và nhiều loại nguyên liệu đầu vào liên tục tăng khiến chi phí sản xuất ngày càng lớn, lợi nhuận của người làm nghề ngày càng thu hẹp.
Không chỉ chịu áp lực về đầu ra, nghề làm dũa còn đòi hỏi người thợ phải bỏ nhiều công sức, trải qua nhiều công đoạn thủ công, thường xuyên làm việc trong môi trường có nhiệt độ cao, bụi thép và tiếng ồn. Thu nhập không còn hấp dẫn khiến nghề ngày càng khó thu hút lao động trẻ. Nhiều người sau khi trưởng thành lựa chọn làm việc tại các doanh nghiệp hoặc khu công nghiệp với mức thu nhập ổn định hơn. Bởi thế, những người còn gắn bó với nghề hiện nay chủ yếu là các lao động trung tuổi, vẫn ngày ngày kiên trì giữ gìn nghề truyền thống của cha ông.

Không chỉ đòi hỏi sự khéo léo và kiên trì, nghề làm dũa còn khiến người thợ thường xuyên làm việc trong môi trường nhiều bụi thép, tiếng ồn và nhiệt độ cao, ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe.

Ông Vũ Văn Tự, một trong số ít hộ dân còn gắn bó với nghề dũa ở làng Đại Phu, trăn trở: "Chúng tôi theo cha ông làm nghề từ nhỏ, giờ tuổi cao rồi cũng không có công việc khác nên cứ bám lấy cái nghề dũa này. Công việc vất vả nhưng thu nhập không cao nên lớp trẻ bây giờ ít ai còn muốn theo nghề. Trong gia đình đời tôi là thế hệ cuối cùng còn gắn bó với nghề này."
Hiện mỗi ngày, cơ sở của gia đình ông Tự sản xuất khoảng 300-400 chiếc dũa các loại, đồng thời tạo việc làm cho 3 lao động địa phương ở các công đoạn mài và tôi luyện. Mỗi sản phẩm xuất xưởng có giá từ 10.000-35.000 đồng, tùy chủng loại; thu nhập của người lao động dao động khoảng 5-6 triệu đồng/tháng.
Tiếng búa ở Đại Phu hôm nay không còn rộn ràng như một thời vàng son. Những lò bễ đỏ lửa đã thưa dần, nhiều ngôi nhà từng sống bằng nghề nay đã chuyển sang công việc khác. Thế nhưng, trong những xưởng nhỏ còn sáng lửa mỗi ngày, những người thợ vẫn cần mẫn tạo nên từng chiếc dũa bằng đôi bàn tay chai sạn và kinh nghiệm khéo léo tích lũy qua nhiều thế hệ.
Giữ nghề hôm nay không chỉ là giữ một kế sinh nhai, mà còn là gìn giữ ký ức của một làng nghề từng làm rạng danh vùng quê Đại Phu, nơi những chiếc dũa thủ công đã vượt ra ngoài biên giới, có mặt ở hơn 150 nước trên thế giới.

Để tiếng búa ấy không chỉ còn trong ký ức, rất cần sự chung tay của các cấp, các ngành trong việc hỗ trợ kết nối thị trường, xây dựng thương hiệu, tạo điều kiện để thế hệ trẻ có thêm động lực tiếp nối nghề truyền thống. Khi ngọn lửa trong lò rèn vẫn còn được gìn giữ, hy vọng về sự hồi sinh của một làng nghề gần trăm năm tuổi vẫn còn được thắp sáng.

Trần Giang

















Home Icon VỀ TRANG CHỦ