Bảo tồn, phát triển làng nghề thủ công mỹ nghệ từ sức mạnh văn hóa

Khách mua sắm sản phẩm thủ công mỹ nghệ tại Hội chợ triển lãm. (Ảnh: TTXVN)
Việt Nam từ lâu đã được biết đến là một quốc gia giàu bản sắc văn hóa với hệ thống làng nghề truyền thống phong phú và đa dạng trải dài khắp mọi miền đất nước.
Hệ thống làng nghề ở Việt Nam vô cùng phong phú, với khoảng 5.400 làng nghề, trong đó có gần 2.000 làng nghề truyền thống, tạo việc làm cho khoảng 11 triệu lao động và đóng góp đáng kể vào nền kinh tế quốc gia.
Các làng nghề không chỉ sản xuất hàng hóa mà còn là không gian văn hóa đặc sắc, nơi hội tụ kỹ năng, tri thức dân gian và bản sắc vùng miền. Những làng nghề như gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, dát vàng Kiêu Kỵ… đã trở thành biểu tượng văn hóa và thương hiệu của Việt Nam trên trường quốc tế.
Trong bối cảnh hội nhập và phát triển kinh tế hiện nay, các làng nghề ở Việt Nam đang đứng trước cả cơ hội lẫn thách thức. Tuy nhiên, với sự ra đời của Nghị quyết 80 và các chính sách hỗ trợ liên quan, các làng nghề đang có thêm nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển bền vững, đồng thời bảo tồn những giá trị truyền thống quý báu.
Chính từ đôi bàn tay người thợ, văn hóa Việt được gìn giữ, lan tỏa và tiếp tục sống động. Các làng nghề không còn được nhìn nhận như những di sản cần bảo tồn đơn thuần, mà trở thành chủ thể sáng tạo trong nền kinh tế văn hóa. Trong dòng chảy ấy, những làng nghề thủ công mỹ nghệ tưởng chừng lặng lẽ lại hiện lên như những “mạch nguồn,” âm thầm chuyển hóa thành sức mạnh của văn hóa Việt Nam.
Nghị quyết 80 của Chính phủ đã được ban hành như một bước đi quan trọng nhằm tạo động lực cho các làng nghề phát triển. Nghị quyết này tập trung vào việc hỗ trợ phát triển kinh tế nông thôn, trong đó đặc biệt chú trọng đến việc khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống và bảo tồn văn hóa.
Các chính sách trong Nghị quyết 80 hướng đến việc cải thiện hạ tầng, hỗ trợ vốn, đào tạo nghề, xúc tiến thương mại và xây dựng thương hiệu cho sản phẩm làng nghề. Đây là những yếu tố then chốt giúp các làng nghề không chỉ tồn tại mà còn phát triển mạnh mẽ trong nền kinh tế thị trường.
Ngoài ra, trong thời đại số hóa, việc ứng dụng công nghệ vào sản xuất và kinh doanh cũng được khuyến khích mạnh mẽ. Nhiều làng nghề đã bắt đầu sử dụng mạng xã hội, sàn thương mại điện tử để quảng bá và bán sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ. Đây là hướng đi phù hợp giúp các sản phẩm thủ công truyền thống tiếp cận được với khách hàng trẻ và thị trường quốc tế.
Sơn Đồng-Làng nghề tạc tượng và đồ thờ lớn nhất Việt Nam

Nghệ nhân làng nghề tạc tượng Sơn Đồng (Hoài Đức cũ) Hà Nội đang hoàn thiện những bức tượng. (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)
Làng nghề tạc tượng Sơn Đồng (xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, Hà Nội) nổi tiếng với nghề đục, khắc tượng, làm đồ thờ truyền thống cùng với đó là kỹ thuật sơn son, thếp vàng tinh xảo được các khách hàng trong và ngoài nước đánh giá rất cao.
Để bắt đầu làm ra một bức tượng thì việc chọn gỗ bao giờ cũng là quan trọng nhất. Nguyên liệu để làm tượng Phật phải là gỗ mít bởi đặc tính dẻo, mềm, thớ dặm, nhờ đó tránh được những lỗi trong khi đục. Gỗ mít còn có độ bền cao, ít nứt, dễ gọt.
Nguồn gỗ mít từ các tỉnh như Phú Thọ, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Nghệ An… được người dân Sơn Đồng tin dùng nhiều nhất. Gỗ chỉ dùng được phần lõi để chế tác. Kỹ thuật sơn son thếp vàng tượng cũng kỳ công với nhiều công đoạn như sơn lên rồi mài đi, trải qua nhiều lần rồi mới đến thếp bạc, thếp vàng lên tượng theo yêu cầu của khách hàng. Làm tượng là khó nhất, người thợ phải thổi được hồn vào pho tượng, nhìn phải có thần, có dáng…
Những sản phẩm đồ thờ cúng sơn son, thết vàng cũng vô cùng tinh xảo và đẹp mắt qua bàn tay điêu luyện của người thợ làng Sơn Đồng.
Điều đặc biệt ở Sơn Đồng là khách hàng cần đặt làm bất cứ pho tượng thờ nào thì người thợ nơi đây đều làm được ngay mà không cần mẫu sinh kề (mẫu có sẵn).
Bên cạnh đó người Sơn Đồng còn tạc những pho tượng truyền thần dựa vào bức ảnh chân dung hoặc toàn thân của khách hàng, từ đó tạc nên bức tượng chất liệu gỗ giống với ảnh chụp. Để làm được những điều đó, người thợ phải có kinh nghiệm, hiểu được các điển tích, tính cách, chức vụ, vị trí của từng pho tượng trong tâm thức để rồi thổi hồn vào các tác phẩm.
Đôi bàn tay tài hoa của người nghệ nhân Sơn Đồng còn lưu dấu ấn tại các công trình văn hóa của Hà Nội như: Văn miếu Quốc Tử Giám, Khuê Văn Các, đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc, chùa Một Cột... Nghề quý trong tay người thợ Sơn Đồng còn lan tỏa đi khắp vùng miền, góp phần phục dựng và bảo tồn rất nhiều công trình văn hóa tâm linh.
Trong những năm gần đây, nhiều lớp thanh niên của làng nghề Sơn Đồng đã đến với các thành phố lớn để mở xưởng, mở cửa hàng giới thiệu sản phẩm điêu khắc, mỹ nghệ của làng nghề. Qua đó giúp cho thương hiệu đồ thờ, tượng gỗ, sản phẩm mỹ nghệ của Sơn Đồng vốn đã nổi tiếng nay còn được nhiều người biết đến hơn
Làng nghề mây tre đan Phú Vinh

Nghệ nhân Thái Hoán-Làng nghề mây tre đan Bao La, Huế trình diễn làm đèn bảo cái tại chương trình. (Ảnh: Tuyết Mai/TTXVN)
Làng nghề mây tre đan Phú Vinh nằm ở xã Phú Nghĩa (huyện Chương Mỹ, Hà Nội). Đây là một trong những làng nghề thủ công truyền thống nổi tiếng ở phía Bắc với lịch sử khoảng 400 năm.
Sản phẩm của làng nghề khá đa đạng: đồ vật trang trí, bàn ghế, tranh… Hiện nay, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của làng nghề đã được xuất khẩu đi nhiều nước trên giới như Nhật Bản, Trung Quốc…
Làng nghề mây tre đan Phú Vinh chính thức được công nhận là làng nghề truyền thống vào năm 2002.
Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Phương Quang, nghệ nhân làng nghề mây tre đan Phú Vinh (Hà Nội) chia sẻ: "Hôm nay chúng tôi mang đến lễ hội Ánh sáng một số các loại đèn với chất liệu bằng mây, tre đan. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng mới sản xuất ra một số loại đèn có chất liệu là cây đu đủ. Với những chất liệu này để làm ra một sản phẩm chúng tôi tốn nhiều thời gian. Trong lễ hội ánh sáng này, chúng tôi cũng ra mắt cho khán giả những tác phẩm mới. Tại lễ hội Ánh sáng này chúng tôi mong muốn được lan tỏa sự tinh hoa đến với mọi người.”
Bát Tràng- Ngọn lửa trăm năm vẫn tỏa sáng

Sản phẩm gốm Bát Tràng nổi tiếng với độ bền và quy trình làm thủ công tỉ mỉ. (Ảnh: Phan Phương/TTXVN)
Trải qua hàng trăm năm, Bát Tràng không chỉ giữ vững kỹ thuật truyền thống mà còn liên tục đổi mới để thích ứng với thị trường. Người thợ chuyển từ tư duy sản xuất sang tư duy sáng tạo, chú trọng thiết kế, nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm.
Từ những vật dụng quen thuộc như bát, đĩa, ấm chén đến các sản phẩm mỹ thuật cao cấp, tất cả đều mang dấu ấn tinh xảo và bản sắc riêng.
Điểm nổi bật của Bát Tràng còn nằm ở khả năng kết nối văn hóa với kinh tế. Làng nghề không chỉ sản xuất mà còn trở thành điểm du lịch trải nghiệm, nơi du khách trực tiếp tham gia làm gốm, qua đó hiểu rõ hơn giá trị lao động thủ công. Sự kết hợp này giúp mở rộng thị trường, đưa sản phẩm ra quốc tế.
Hiện nay, làng gốm Bát Tràng có gần 200 doanh nghiệp và khoảng 1.000 hộ sản xuất, tạo việc làm cho hàng nghìn lao động. Giá trị sản xuất, kinh doanh đạt trên 2.000 tỷ đồng mỗi năm; thu nhập bình quân khoảng 87–90 triệu đồng/người/năm.
Giữ nghề truyền thống nhưng luôn đổi mới, người dân Bát Tràng đang khẳng định vị thế của một làng nghề lâu đời. Sản phẩm không chỉ mang giá trị sử dụng mà còn chứa đựng câu chuyện văn hóa Việt. Gốm Bát Tràng đã được xuất khẩu sang nhiều thị trường như Nhật Bản, Hàn Quốc, châu Âu, mang lại nguồn thu đáng kể.
Không chỉ là nơi sản xuất, Bát Tràng còn trở thành điểm đến văn hóa, du lịch hấp dẫn của Hà Nội, đón hàng trăm nghìn lượt khách mỗi năm.
Những năm gần đây, việc ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất giúp nâng cao chất lượng sản phẩm. Đồng thời, địa phương chú trọng bảo vệ môi trường, chuyển đổi công nghệ nung và xử lý chất thải. Phế thải gốm cũng được tái chế làm vật liệu xây dựng hoặc san lấp.
Sơn mài Hạ Thái: Từ làng nghề “dâng vua” đến điểm du lịch hấp dẫn

Vẽ hoa văn trên sản phẩm gốm sứ tại làng nghề Hạ Thái. (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)
Cách trung tâm Hà Nội gần 20km về phía Nam, làng Hạ Thái (xã Duyên Thái) từ lâu đã được biết đến như một trong những cái nôi của nghệ thuật sơn mài Việt Nam.
Nằm trong danh sách bảy điểm du lịch làng nghề của Thủ đô, nơi đây không chỉ là không gian lưu giữ ký ức văn hóa mà còn là minh chứng cho sức sống bền bỉ của một nghề thủ công truyền thống đã tồn tại suốt nhiều thế kỷ.
Nghề sơn mài ở Hạ Thái vừa gắn với chiều sâu lịch sử, vừa phản ánh sự đổi mới, sáng tạo không ngừng của người thợ Việt Nam trước những biến chuyển của đời sống đương đại.
Một sản phẩm sơn mài Hạ Thái là kết tinh của hàng chục công đoạn hoàn toàn thủ công, từ tạo vóc, sơn lót, khảm, vẽ, mài cho đến đánh bóng.
Người thợ phải dành nhiều tuần, thậm chí cả tháng cho một tác phẩm. Dù chỉ là chiếc bát, chiếc lọ nhỏ hay những bức tranh lớn, mỗi sản phẩm đều đòi hỏi sự điêu luyện, tỉ mỉ và kiên nhẫn.
Theo các thợ lành nghề, phải trải qua 12-15 lớp sơn và nhiều ngày mài, đánh bóng mới tạo được độ bền và độ óng ánh đặc trưng.
Khi hoàn thiện, chúng tỏa ra vẻ đẹp óng ánh, lộng lẫy từ sự phối sắc tinh tế, đồng thời mang trong mình nét duyên dáng, mộc mạc của làng quê Việt Nam.
Nhờ sự hỗ trợ của chính quyền, người dân đã đầu tư mở rộng mô hình kinh doanh, phát triển dịch vụ trải nghiệm làm tranh sơn mài, thu hút du khách trong và ngoài nước. Sản phẩm làng nghề hiện đã xuất khẩu sang nhiều quốc gia như Anh, Mỹ, Pháp, Nga, Nhật Bản, Australia...
Dù có thương hiệu mạnh, Hạ Thái vẫn đối mặt với nhiều hạn chế. Cơ sở vật chất phục vụ du lịch còn thiếu: khu trải nghiệm, phòng trưng bày, điểm lưu niệm hay dịch vụ ăn uống, vui chơi đều chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của du khách.
Có thể thấy, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị mới ban hành đang là bước tiến quan trọng, khẳng định vai trò phát triển văn hóa đất nước trong xu thế mới. Đối với các làng nghề như Bát Tràng, Hương Canh, Kiêu Kỵ, nghị quyết đóng vai trò định hướng, góp phần bảo tồn tinh hoa, khai thác nguồn lực nội sinh và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Những làng nghề này không chỉ gìn giữ các giá trị của quá khứ mà còn hướng tới tương lai -nơi văn hóa trở thành động lực cho phát triển bền vững, góp phần khẳng định bản sắc Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Các làng nghề đã mở ra hướng đi bền vững, kết hợp hài hòa giữa kinh tế và văn hóa. Đây không chỉ là cơ hội để nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người dân mà còn là cách để gìn giữ và phát huy những giá trị truyền thống quý báu của dân tộc.
Các làng nghề ở Việt Nam hiện nay đang đứng trước những cơ hội lớn để phát triển nhờ sự hỗ trợ từ các chính sách như Nghị quyết 80. Tuy vẫn còn nhiều thách thức, nhưng với sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa bảo tồn và phát triển, các làng nghề hoàn toàn có thể trở thành động lực quan trọng cho phát triển kinh tế nông thôn, đồng thời là cầu nối gìn giữ và lan tỏa bản sắc văn hóa dân tộc.
Trong tương lai, nếu tiếp tục được quan tâm và đầu tư đúng mức, các làng nghề Việt Nam sẽ ngày càng phát triển, trở thành niềm tự hào và là “đại sứ văn hóa” của đất nước trên trường quốc tế.
(Vietnam+)
20 giờ trước
3 ngày trước
7 ngày trước
13 ngày trước
16 ngày trước
17 ngày trước
18 ngày trước
21 ngày trước
23 ngày trước
26 ngày trước
28 ngày trước
3 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
Vừa xong
1 phút trước
8 phút trước
10 phút trước
25 phút trước
33 phút trước
37 phút trước
37 phút trước
40 phút trước