Bảo đảm ổn định cung ứng điện, xăng dầu và khí phục vụ các động lực tăng trưởng của TP.HCM đến năm 2030
Tạp chí Doanh Nhân Sài Gòn trân trọng giới thiệu toàn văn tham luận của Sở Công Thương TP.HCM.

Bảo đảm ổn định cung ứng điện, xăng dầu và khí phục vụ các động lực tăng trưởng của TP.HCM đến năm 2030. Ảnh minh họa
Năng lượng là đầu vào nền tảng của nền kinh tế đô thị hiện đại. Đối với Thành phố Hồ Chí Minh, điện, xăng dầu và khí không chỉ bảo đảm cho hoạt động sản xuất, thương mại, dịch vụ, logistics, giao thông vận tải và đời sống dân sinh, mà còn có ý nghĩa quyết định đối với ổn định thị trường, bảo đảm an sinh xã hội và duy trì đà tăng trưởng kinh tế bền vững.
Trong bối cảnh Thành phố phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân khoảng 10%/năm đến năm 2030, yêu cầu đặt ra đối với ngành năng lượng không chỉ là bảo đảm đủ nguồn cung trong điều kiện bình thường, mà còn phải chủ động hơn trong dự báo nhu cầu, chuẩn bị hạ tầng, xây dựng cơ chế dự trữ, điều hành linh hoạt theo nhiều cấp độ rủi ro và tăng khả năng chống chịu trước các biến động từ bên ngoài.
Trên tinh thần đó, Sở Công Thương báo cáo tham luận về nội dung bảo đảm ổn định cung ứng điện, xăng dầu và khí phục vụ các động lực tăng trưởng của Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2030 như sau:
I. THỰC TRẠNG CUNG ỨNG ĐIỆN, XĂNG DẦU VÀ KHÍ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
1. Đối với lĩnh vực điện
Điện là đầu vào thiết yếu của toàn bộ hệ thống sản xuất công nghiệp, thương mại,
dịch vụ, logistics, hạ tầng đô thị, hạ tầng số, trung tâm dữ liệu và đời sống dân cư. Trong năm 2025, nhìn chung ngành điện đã bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ cung cấp điện ổn định, an toàn, đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt của người dân trên địa bàn Thành phố. Cụ thể, sản lượng điện thương phẩm của toàn địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh mới đạt 55,986 tỷ kWh; công suất cực đại toàn Thành phố đạt Pmax=9.115 MW. Về cơ cấu điện thương phẩm, ngành công nghiệp - xây dựng chiếm tỷ trọng cao nhất với 44,78%; quản lý tiêu dùng dân cư chiếm 38,59%; thương nghiệp - khách sạn chiếm 9,46%. Các số liệu này cho thấy phụ tải điện của Thành phố tiếp tục gắn chặt với khu vực sản xuất công nghiệp, xây dựng, dịch vụ và nhu cầu sinh hoạt của đô thị đặc biệt.
Về hạ tầng cung ứng điện, đến hết năm 2025, Thành phố được cấp điện từ hệ thống nguồn điện khu vực và quốc gia với quy mô lớn, bao gồm các trung tâm điện lực và nhà máy điện quan trọng như Phú Mỹ, Bà Rịa, Nhơn Trạch, Trị An, Vĩnh Tân, Duyên Hải; đồng thời trên địa bàn cũng đang triển khai các dự án nguồn mới như Nhà máy điện LNG Hiệp Phước giai đoạn 1 công suất 1.200 MW, giai đoạn 2 công suất 1.500 MW, cùng các dự án đốt rác phát điện. Bên cạnh đó, Thành phố hiện có khoảng 21.500 hệ thống điện mặt trời mái nhà, với tổng công suất lắp đặt hơn 1.600 MWp; tổng sản lượng dư phát lên lưới năm 2025 khoảng 734,7 triệu kWh, sản lượng khách hàng tự dùng khoảng 765 triệu kWh, tương ứng khoảng 1,75% sản lượng điện thương phẩm năm 2025.
Về lưới điện, trên địa bàn Thành phố hiện có 08 trạm biến áp 500 kV với tổng công suất 12.150 MVA; 30 trạm biến áp 220 kV với tổng công suất 17.250 MVA; 159 trạm biến áp 110 kV với tổng công suất 17.892 MVA; cùng 66.606 trạm biến áp phân phối trung thế với tổng công suất 33.775 MVA. Với quy mô nguồn và lưới điện hiện hữu, so với công suất cực đại năm 2025 là 9.115 MW, hệ thống điện Thành phố vẫn có độ dự phòng tương đối cao, cơ bản bảo đảm cung cấp điện đầy đủ, ổn định, tin cậy và an toàn cho phát triển kinh tế - xã hội và đời sống dân sinh.
Tuy nhiên, trước yêu cầu tăng trưởng nhanh trong giai đoạn tới, áp lực đối với hệ thống điện sẽ ngày càng rõ nét hơn, nhất là yêu cầu bảo đảm cấp điện ổn định, liên tục, an toàn, có dự phòng cho các phụ tải trọng yếu, các khu vực phát triển công nghiệp
- dịch vụ tập trung, trung tâm logistics, cảng, hạ tầng kỹ thuật, y tế, viễn thông, dữ liệu và dân sinh đô thị. Do đó, thách thức đặt ra đối với lĩnh vực điện không chỉ là “đủ điện”, mà còn là bảo đảm điện ổn định, tin cậy, có khả năng dự phòng và thích ứng linh hoạt để phục vụ các động lực tăng trưởng mới của Thành phố.
2. Đối với lĩnh vực xăng dầu
Xăng dầu hiện vẫn là nguồn nhiên liệu chủ lực đối với giao thông vận tải,
logistics, xây dựng, một phần hoạt động sản xuất công nghiệp và tiêu dùng dân sinh. Trên địa bàn Thành phố hiện có 1.191 cửa hàng bán lẻ xăng dầu, 425 đại lý, 66 thương nhân phân phối, 12 thương nhân đầu mối và 02 thương nhân sản xuất, phân phối; tổng sản lượng tiêu thụ xăng dầu năm 2025 khoảng 4,75 triệu tấn.
Hệ thống phân phối xăng dầu của Thành phố có quy mô lớn, đóng vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ đối với nhu cầu nội tại của Thành phố mà còn gắn với chức năng trung chuyển, liên kết vùng và phục vụ lưu thông hàng hóa trên địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam. Mạng lưới cửa hàng bán lẻ xăng dầu hiện phân bố khá rộng, góp phần đáp ứng nhu cầu thường xuyên của người dân và doanh nghiệp; bình quân 1 cửa hàng phục vụ hơn 12.300 người.
Bên cạnh những kết quả đạt được, hệ thống xăng dầu vẫn còn một số hạn chế. Phân bố mạng lưới giữa khu vực trung tâm với vùng ven, ngoại thành, khu vực cửa ngõ, hải đảo chưa thật sự đồng đều; một số cửa hàng quy mô nhỏ, khó cải tạo mở rộng; một số điểm bán chưa đáp ứng đầy đủ các điều kiện về đất đai, xây dựng, môi trường, đấu nối giao thông và các tiêu chuẩn kỹ thuật mới.
Thực tiễn từ năm 2022 đến nay cho thấy, dù mạng lưới lớn nhưng khi thị trường biến động mạnh, hệ thống vẫn có thể xuất hiện thiếu hụt cục bộ, có thời điểm nhiều cửa hàng tạm ngưng bán hoặc bán cầm chừng do nguồn cung bị gián đoạn, chiết khấu thấp và điều phối chưa kịp thời. Điều này cho thấy năng lực chống chịu của thị trường xăng dầu còn chưa đồng đều, cần tiếp tục được củng cố.
Về hạ tầng kho và dự trữ, Thành phố có lợi thế là trung tâm nhập khẩu, trung chuyển và phân phối quan trọng của khu vực phía Nam. Tổng năng lực kho đầu mối trên địa bàn Thành phố đạt hơn 1,75 triệu m³, tập trung tại các khu vực như Nhà Bè, Hiệp Phước, Vũng Tàu, Cái Mép và Bình Dương. Trong định hướng đến năm 2030, dự án Tổng kho xăng dầu Phú Xuân - Nhà Bè dự kiến bổ sung thêm 450.000 m³ sức chứa, góp phần nâng cao năng lực dự trữ và điều tiết nguồn cung cho Thành phố và khu vực.
3. Đối với lĩnh vực khí
Khí là nguồn năng lượng quan trọng đối với tiêu dùng dân dụng, thương mại,
dịch vụ, sản xuất công nghiệp và quá trình chuyển dịch sang mô hình năng lượng sạch hơn. Trên địa bàn Thành phố có 252 thương nhân kinh doanh khí, gồm các thương nhân mua bán LPG, CNG, LNG và các thương nhân xuất nhập khẩu khí. Hệ thống phân phối khí có 1.868 cơ sở kinh doanh, 216 cửa hàng trực thuộc và 230 khách hàng công nghiệp.
Sản lượng mua bán khí năm 2025 đạt khoảng 4,76 triệu tấn, trong đó LPG chai là 1.389.475 tấn, LPG bồn là 2.741.017 tấn, CNG là 402.478 tấn và LNG là 231.786 tấn. Điều này cho thấy khí đang giữ vai trò ngày càng rõ nét trong sinh hoạt, thương mại, công nghiệp và trong xu hướng phát triển năng lượng sạch hơn tại Thành phố.
Tuy nhiên, lĩnh vực khí vẫn chịu tác động đáng kể từ thị trường bên ngoài. Theo đánh giá, khoảng 70% sản lượng LPG nhập khẩu có liên quan đến nguồn từ khu vực Trung Đông; khi các tuyến vận tải chiến lược bị ảnh hưởng, thời gian giao hàng có thể chậm từ 1 đến 3 tuần. Đối với LNG, nguồn cung vẫn phụ thuộc lớn vào kế hoạch nhập khẩu, lịch tàu, chi phí logistics và năng lực tồn chứa. Vì vậy, đây là lĩnh vực cần đặc biệt chú trọng đến bài toán đa dạng hóa nguồn cung, nâng năng lực tồn chứa và xây dựng phương án dự phòng.
4. Đánh giá chung
Có thể khẳng định rằng hệ thống cung ứng điện, xăng dầu và khí trên địa bàn
Thành phố hiện nay cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đời sống dân sinh. Tuy nhiên, trước mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới, cùng với bối cảnh thị trường năng lượng thế giới còn nhiều biến động, hệ thống năng lượng của Thành phố đang đứng trước sức ép ngày càng lớn.
Rủi ro không chỉ nằm ở bài toán tổng cung, mà còn nằm ở năng lực dự báo, chất lượng điều hành, độ đồng bộ của hạ tầng, khả năng dự phòng, mức độ liên thông dữ liệu và cơ chế phản ứng nhanh khi phát sinh biến động cục bộ hoặc đứt gãy kéo dài.
II. DỰ BÁO NHU CẦU ĐIỆN, XĂNG DẦU VÀ KHÍ ĐẾN NĂM 2030 THEO ĐỊNH HƯỚNG GRDP TĂNG BÌNH QUÂN 10%/NĂM
Với định hướng Thành phố duy trì tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân khoảng 10%/năm đến năm 2030, nhu cầu năng lượng trong giai đoạn tới sẽ tăng mạnh cả về quy mô tuyệt đối và yêu cầu chất lượng cung ứng.
1. Dự báo nhu cầu điện
Theo Phương án cung cấp điện năm 2026 đã được Ủy ban nhân dân Thành phố
phê duyệt tại Quyết định số 954/QĐ-UBND ngày 13 tháng 02 năm 2026, nhu cầu điện năm 2026 trên địa bàn Thành phố tiếp tục tăng so với năm 2025. Cụ thể, công suất cực đại năm 2026 dự kiến đạt 9.677 MW, tăng 5,76% so với mức 9.115 MW của năm 2025; điện thương phẩm ước đạt 60.024 triệu kWh, tăng 7,21% so với năm 2025.
Đến năm 2030, theo Chương trình hành động số 10-CTrHĐ/TU ngày 06 tháng 3 năm 2026 của Ban Thường vụ Thành ủy thực hiện Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, nhu cầu sử dụng điện của Thành phố được dự báo đạt khoảng 93,972 tỷ kWh điện thương phẩm và công suất sử dụng điện cực đại khoảng 16.103 MW. So với năm 2026, mức này tương ứng tăng khoảng 57% về điện thương phẩm và 66% về công suất cực đại.
Từ mức tăng này có thể thấy, trong bối cảnh Thành phố đặt mục tiêu tăng trưởng cao, nhu cầu điện đến năm 2030 sẽ gia tăng rất mạnh, không chỉ về sản lượng mà còn về yêu cầu bảo đảm công suất, độ tin cậy và khả năng dự phòng của hệ thống. Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu phát triển đến năm 2030, Thành phố cần đẩy nhanh tiến độ các dự án nguồn và lưới điện theo quy hoạch, nhất là các dự án Nhà máy nhiệt điện LNG Hiệp Phước công suất 2.700 MW, Nhà máy nhiệt điện LNG Long Sơn công suất 1.500 MW, các dự án năng lượng tái tạo và các công trình lưới điện truyền tải, phân phối trọng điểm, nhằm bảo đảm cung cấp điện an toàn, ổn định theo tiêu chí N-1.
2. Dự báo nhu cầu xăng dầu, khí
Việc dự báo nhu cầu xăng dầu, khí của Thành phố trong giai đoạn 2026–2030
cần được tiếp cận trên cơ sở kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và xu hướng chuyển đổi xanh. Theo lý thuyết và kinh nghiệm quốc tế, nhu cầu năng lượng nhìn chung tăng cùng với tăng trưởng GDP hoặc GRDP, tuy nhiên mức tăng của từng loại nhiên liệu không hoàn toàn đồng biến theo cùng một tỷ lệ. Trong điều kiện nền kinh tế phát triển theo hướng hiện đại, hiệu quả và xanh hơn, cường độ sử dụng năng lượng trên một đơn vị GRDP có xu hướng giảm dần; do đó, độ co giãn của nhu cầu xăng dầu, khí theo GRDP thường thấp hơn 1 trong trung và dài hạn.
Đối với xăng dầu, trên cơ sở phân nhóm nhu cầu sử dụng theo vận tải hàng hóa, logistics, xây dựng; giao thông hành khách và tiêu dùng dân cư; công nghiệp, thương mại, dịch vụ; cùng các nhu cầu khác, và áp dụng tốc độ tăng theo phương pháp bình quân gia quyền có xét đến xu hướng tiết kiệm năng lượng và chuyển đổi xanh, nhu cầu xăng dầu năm 2026 được dự ước khoảng 5,11 triệu tấn, tăng khoảng 7,6% so với năm 2025. Mức tăng này phản ánh sát hơn đặc điểm của Thành phố trong bối cảnh hoạt động kinh tế tiếp tục mở rộng nhưng tốc độ gia tăng tiêu thụ nhiên liệu đã bắt đầu chịu tác động điều chỉnh bởi hiệu quả logistics, đổi mới công nghệ và quá trình điện hóa giao thông.
Trong giai đoạn đến năm 2030, nếu Thành phố thực hiện mạnh mẽ các chủ trương chuyển đổi xanh, nhất là trong lĩnh vực giao thông, logistics, sản xuất và tiêu dùng đô thị, thì nhu cầu xăng dầu sẽ không tăng cùng tốc độ với GRDP. Các yếu tố như phát triển xe điện, xe buýt điện, phương tiện tiết kiệm nhiên liệu, logistics xanh, tối ưu hóa chuỗi vận tải, gia tăng tỷ trọng dịch vụ và công nghệ cao trong cơ cấu kinh tế sẽ làm cho tốc độ tăng nhu cầu xăng dầu thấp hơn tốc độ tăng GRDP. Trên cơ sở đó, tốc độ tăng bình quân năm của nhu cầu xăng dầu giai đoạn 2025-2030 được xác định khoảng 6,21%/năm. Dự ước nhu cầu xăng dầu của Thành phố đến năm 2030 được dự báo khoảng 6,42 triệu tấn. Mức dự báo này phản ánh đúng đặc điểm của giai đoạn chuyển tiếp: xăng dầu vẫn giữ vai trò nhiên liệu chủ lực, nhưng tốc độ tăng nhu cầu sẽ chậm dần do tác động của chuyển đổi xanh và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng.
Đối với khí, trên cơ sở phân nhóm nhu cầu theo LPG dân dụng, thương mại, dịch vụ; LPG, CNG cho công nghiệp; và LNG, điện khí cùng các lĩnh vực tăng trưởng mới, áp dụng phương pháp tăng trưởng bình quân gia quyền có xét vai trò của khí như một nhiên liệu chuyển tiếp trong quá trình chuyển đổi năng lượng, nhu cầu khí năm 2026 dự ước khoảng 5,12 triệu tấn, tăng khoảng 7,5% so với năm 2025.
Trong giai đoạn trung hạn, khí vẫn có dư địa tăng trưởng tích cực hơn xăng dầu do có thể đóng vai trò là nhiên liệu chuyển tiếp đối với dân dụng, thương mại, công nghiệp và một số lĩnh vực giao thông, điện khí. Tuy nhiên, mức tăng của khí cũng không nên giả định tăng đồng tốc với GRDP, bởi quá trình tiết kiệm năng lượng, đổi mới công nghệ và thay đổi cơ cấu tiêu dùng vẫn sẽ làm giảm dần cường độ sử dụng năng lượng. Trên cơ sở đó, tốc độ tăng bình quân năm của nhu cầu khí giai đoạn 2025-2030 được xác định khoảng 7,01%/năm; từ mức nền 4,76 triệu tấn năm, nhu cầu khí đến năm 2030 được dự báo khoảng 6,68 triệu tấn.
Từ các phân tích trên có thể thấy, trong bối cảnh Thành phố đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân khoảng 10%/năm, nhu cầu xăng dầu và khí đều tiếp tục tăng đến năm 2030; tuy nhiên, mức tăng sẽ chịu tác động điều chỉnh đáng kể bởi xu hướng chuyển đổi xanh. Đối với xăng dầu, trọng tâm là xu hướng điện hóa giao thông, phát triển phương tiện ít phát thải, nâng cao hiệu quả logistics và giảm dần cường độ tiêu thụ nhiên liệu trong vận tải. Đối với khí, mặc dù vẫn tăng tương đối tích cực do vai trò nhiên liệu chuyển tiếp, nhưng cũng cần tính đến yêu cầu tiết kiệm năng lượng, phát triển công nghệ sạch và tối ưu hóa sử dụng trong công nghiệp và dân dụng.
Do đó, trong công tác quy hoạch và điều hành cung ứng năng lượng, Thành phố cần tránh cách tiếp cận dự báo đơn thuần theo tỷ lệ tăng GRDP. Thay vào đó, cần áp dụng phương pháp dự báo theo độ co giãn hiệu dụng, có tính đến xu hướng chuyển đổi xanh trong giao thông, logistics, công nghiệp, thương mại và đời sống dân cư. Đây sẽ là cơ sở phù hợp hơn để xác định nhu cầu xăng dầu, khí năm 2026 và năm 2030, đồng thời phục vụ tốt hơn cho việc xây dựng các kịch bản bảo đảm cung ứng năng lượng của Thành phố trong giai đoạn tới.
3. Chỉ tiêu về điện, xăng dầu, khí của Thành phố đến năm 2030

Qua số liệu trên có thể thấy, nhu cầu năng lượng của Thành phố trong giai đoạn tới sẽ tiếp tục tăng mạnh. Trong đó, điện vẫn là đầu vào nền tảng của toàn bộ nền kinh tế đô thị; xăng dầu tiếp tục giữ vai trò chủ lực đối với giao thông, logistics, xây dựng và nhiều hoạt động sản xuất; khí có xu hướng tăng tích cực hơn trong bối cảnh chuyển đổi năng lượng và sử dụng nhiên liệu sạch hơn. Tuy nhiên, đối với xăng dầu và khí, dự báo đến năm 2030 không được tính thuần túy theo tốc độ tăng GRDP, mà đã có điều chỉnh theo độ co giãn hiệu dụng và xu hướng chuyển đổi xanh, nhất là trong giao thông, logistics, công nghiệp và tiêu dùng đô thị.
III. CÁC RỦI RO, THÁCH THỨC CHỦ YẾU
Thứ nhất, biến động địa chính trị, xung đột khu vực và bất ổn trên các tuyến
hàng hải quốc tế tiếp tục tạo ra rủi ro đối với giá dầu, giá khí, cước vận tải và phí bảo hiểm; từ đó tác động trực tiếp đến chi phí sản xuất, vận tải, logistics và tiêu dùng trong nước.
Thứ hai, nguy cơ đứt gãy hoặc chậm nguồn cung cục bộ vẫn hiện hữu, nhất là đối với LPG, LNG và một số phân khúc phụ thuộc nhập khẩu. Khi nguồn nhập bị chậm hoặc chi phí tăng đột biến, rủi ro thiếu hụt cục bộ và tăng giá có thể xuất hiện nhanh nếu cơ chế điều phối chưa theo kịp.
Thứ ba, hạ tầng cung ứng hiện tuy có quy mô lớn nhưng còn chưa đồng đều. Đối với xăng dầu, phân bố cửa hàng, kho chứa và kết nối hạ tầng giữa các khu vực còn chênh lệch; vẫn còn cửa hàng chưa đủ điều kiện pháp lý, kỹ thuật để tiếp tục hoạt động ổn định, lâu dài.
Thứ tư, cơ chế dự trữ và dự phòng còn chưa tương xứng với vai trò đầu tàu kinh tế của Thành phố. Dự trữ quốc gia hiện còn mỏng; trong khi đó dự trữ thương mại chủ yếu do doanh nghiệp thực hiện theo yêu cầu lưu thông, chưa hình thành rõ nét cơ chế dự trữ chiến lược cấp địa phương để ứng phó trong các tình huống thị trường biến động mạnh.
Thứ năm, hệ thống dữ liệu, cảnh báo sớm và cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng trong điều hành năng lượng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện. Trong điều kiện nhu cầu tăng nhanh, nếu không có dữ liệu tốt và cơ chế phối hợp hiệu quả, rủi ro mất cân đối cục bộ sẽ gia tăng.
IV. ĐỊNH HƯỚNG VÀ KỊCH BẢN BẢO ĐẢM ỔN ĐỊNH CUNG ỨNG NĂNG LƯỢNG ĐẾN NĂM 2030
1. Định hướng chung
Trong bối cảnh Thành phố Hồ Chí Minh đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP bình
quân khoảng 10%/năm đến năm 2030, nhu cầu về điện, xăng dầu và khí sẽ tiếp tục gia tăng cả về quy mô tuyệt đối lẫn yêu cầu về chất lượng, tính ổn định và khả năng dự phòng của hệ thống cung ứng. Đồng thời, thị trường năng lượng thế giới và trong nước được dự báo tiếp tục tiềm ẩn nhiều yếu tố bất định, như biến động địa chính trị, giá năng lượng, chuỗi cung ứng, logistics quốc tế, tiến trình chuyển đổi xanh và yêu cầu giảm phát thải. Vì vậy, công tác bảo đảm cung ứng năng lượng của Thành phố trong giai đoạn tới cần được đặt trong một cách tiếp cận mới, chủ động hơn, tích hợp hơn và có chiều sâu hơn.
Theo đó, định hướng chung đến năm 2030 là bảo đảm cung ứng đầy đủ, liên tục, an toàn và linh hoạt các nguồn điện, xăng dầu, khí cho các hoạt động kinh tế - xã hội, đời sống dân sinh và các động lực tăng trưởng của Thành phố trong mọi tình huống, từ điều kiện vận hành bình thường đến khi xảy ra biến động cục bộ hoặc gián đoạn kéo dài. Định hướng này không chỉ nhằm đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng, mà còn hướng tới nâng cao năng lực chống chịu của hệ thống, giảm thiểu tác động lan truyền của biến động năng lượng đến sản xuất, logistics, thương mại, dịch vụ, thị trường và an sinh xã hội.
Để thực hiện mục tiêu đó, công tác bảo đảm năng lượng của Thành phố cần được triển khai theo các định hướng chủ yếu sau đây:
Một là, chuyển mạnh từ tư duy ứng phó sang tư duy chủ động dự báo, phòng ngừa và điều hành theo kịch bản. Trong thời gian qua, công tác điều hành năng lượng phần lớn vẫn mang tính phản ứng theo diễn biến thực tế của thị trường. Trong giai đoạn tới, Thành phố cần chủ động hơn trong theo dõi cung - cầu, nhận diện sớm rủi ro, lượng hóa các mức độ tác động và chuẩn bị sẵn các phương án điều hành tương ứng. Việc xây dựng kịch bản không chỉ để xử lý tình huống khẩn cấp, mà còn để hỗ trợ công tác điều hành thường xuyên, giúp các cơ quan quản lý và doanh nghiệp phối hợp hành động thống nhất, kịp thời và hiệu quả hơn.
Hai là, bảo đảm cung ứng năng lượng phải gắn với mục tiêu phục vụ tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố. Năng lượng phải được ưu tiên bảo đảm cho các khu vực, lĩnh vực và chuỗi hoạt động có vai trò động lực, như công nghiệp chế biến, chế tạo, logistics, cảng biển, xuất nhập khẩu, thương mại, dịch vụ, trung tâm dữ liệu, hạ tầng số, giao thông đô thị, y tế, cấp nước, xử lý môi trường và đời sống dân sinh. Việc phân bổ, điều phối và dự phòng nguồn cung năng lượng phải bám sát sự thay đổi của cơ cấu kinh tế, không gian đô thị, các cực tăng trưởng mới và các nhu cầu phụ tải, tiêu dùng mới phát sinh trong tiến trình phát triển.
Ba là, phát triển hệ thống cung ứng năng lượng theo hướng đồng bộ, đa tầng và có dự phòng. Đối với điện, cần bảo đảm sự đồng bộ giữa nguồn điện, lưới điện truyền tải, phân phối, phụ tải trọng điểm và các giải pháp điều chỉnh nhu cầu. Đối với xăng dầu và khí, cần phát triển đồng thời năng lực nhập hàng, kho chứa, vận chuyển, phân phối và bán lẻ; hình thành “đệm an toàn” về tồn kho và tăng cường năng lực điều phối giữa các khu vực. Hệ thống năng lượng của Thành phố không chỉ cần đủ về quy mô, mà còn cần có khả năng vận hành linh hoạt, thay thế, hỗ trợ lẫn nhau và thích ứng khi có biến động bất thường.
Bốn là, đẩy mạnh liên kết giữa năng lượng truyền thống với quá trình chuyển đổi xanh. Trong giai đoạn đến năm 2030, điện, xăng dầu và khí vẫn là ba trụ cột năng lượng quan trọng của Thành phố; tuy nhiên, nhu cầu và cơ cấu tiêu thụ sẽ thay đổi dưới tác động của chuyển đổi xanh, đặc biệt trong giao thông, logistics, công nghiệp và tiêu dùng đô thị. Vì vậy, định hướng bảo đảm cung ứng năng lượng cần vừa bảo đảm an ninh năng lượng trước mắt, vừa chuẩn bị cho quá trình chuyển dịch trung hạn và dài hạn, như phát triển hạ tầng sạc điện, sử dụng khí làm nhiên liệu chuyển tiếp, thúc đẩy tiết kiệm năng lượng, điều chỉnh phụ tải, điện mặt trời mái nhà, trạm năng lượng đa dịch vụ và các mô hình tiêu dùng năng lượng hiệu quả hơn.
Năm là, nâng cao năng lực điều phối liên ngành, liên vùng và chia sẻ dữ liệu trong quản lý năng lượng. Bảo đảm cung ứng điện, xăng dầu và khí không còn là nhiệm vụ riêng của từng doanh nghiệp hay từng phân ngành, mà đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa Sở Công Thương với các sở, ngành, đơn vị vận hành hạ tầng, doanh nghiệp đầu mối, thương nhân phân phối và các địa phương trong vùng. Thành phố cần từng bước hình thành cơ sở dữ liệu tổng hợp về cung - cầu năng lượng, tồn kho, phụ tải, năng lực kho bãi, mạng lưới phân phối và các chỉ báo cảnh báo sớm, làm nền tảng cho công tác dự báo và điều hành theo thời gian thực.
Sáu là, ưu tiên bảo đảm cung ứng năng lượng cho các lĩnh vực trọng yếu và các tình huống có nguy cơ tác động lan truyền lớn. Trong mọi kịch bản, cần xác định rõ thứ tự ưu tiên trong bảo đảm cung ứng năng lượng, trước hết là cho hệ thống điện lực, y tế, cấp nước, thông tin liên lạc, hạ tầng giao thông, logistics, sản xuất công nghiệp trọng điểm, dịch vụ thiết yếu và nhu cầu dân sinh. Đây là nguyên tắc quan trọng để khi xảy ra biến động, Thành phố vẫn giữ được hoạt động liên tục của nền kinh tế và ổn định xã hội.
Tóm lại, định hướng chung đến năm 2030 là xây dựng hệ thống cung ứng năng lượng của Thành phố theo hướng chủ động, an toàn, linh hoạt, có dự phòng, có khả năng chống chịu cao và thích ứng với cả yêu cầu tăng trưởng nhanh lẫn xu hướng chuyển đổi xanh. Đây là nền tảng để bảo đảm năng lượng thực sự trở thành yếu tố hỗ trợ phát triển, chứ không trở thành điểm nghẽn của quá trình tăng trưởng.
2. Kịch bản 1: Thị trường ổn định, cung ứng bình thường
Trong kịch bản này, thị trường năng lượng thế giới và trong nước cơ bản ổn định; nguồn cung điện, xăng dầu và khí đáp ứng được nhu cầu; giá cả biến động trong biên độ có thể kiểm soát; hệ thống kho bãi, vận chuyển, phân phối và bán lẻ vận hành thông suốt.
Trọng tâm điều hành trong kịch bản này là duy trì tốt chế độ theo dõi, giám sát, dự báo cung - cầu; bảo đảm các nguồn điện, xăng dầu, khí được cung ứng đầy đủ cho sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt; duy trì mức tồn kho hợp lý; chuẩn bị sẵn các phương án ứng phó khi thị trường có dấu hiệu chuyển sang trạng thái rủi ro cao hơn. Đây là giai đoạn thích hợp để củng cố nền tảng dữ liệu, hoàn thiện cơ chế phối hợp, nâng chất lượng dự báo và đầu tư tăng cường hạ tầng năng lượng.
3. Kịch bản 2: Biến động cục bộ
Trong kịch bản này, thị trường xuất hiện những biến động ở mức độ vừa phải nhưng có thể tác động rõ đến một số khu vực, phân khúc hoặc thời điểm nhất định, như giá nhiên liệu tăng nhanh, chậm nguồn nhập khẩu, thiếu hàng cục bộ tại một số địa bàn, áp lực phụ tải điện tăng cao hoặc xảy ra gián đoạn tạm thời trong một số mắt xích logistics.
Trọng tâm điều hành là kích hoạt cơ chế cảnh báo sớm; tăng cường kiểm tra, giám sát thị trường; điều phối nguồn cung giữa các khu vực; ưu tiên cung ứng cho các lĩnh vực và phụ tải thiết yếu; đôn đốc doanh nghiệp đầu mối, thương nhân phân phối và các đơn vị liên quan thực hiện nghiêm trách nhiệm duy trì cung ứng. Đối với điện, cần triển khai các giải pháp điều chỉnh phụ tải, tiết kiệm điện và vận hành linh hoạt hệ thống. Đối với xăng dầu và khí, cần tổ chức điều tiết nguồn hàng, sử dụng hợp lý tồn kho và tăng cường thông tin minh bạch để ổn định tâm lý thị trường.
4. Kịch bản 3: Biến động mạnh hoặc gián đoạn kéo dài
Trong kịch bản này, thị trường năng lượng thế giới hoặc trong nước xuất hiện biến động nghiêm trọng, như xung đột địa chính trị làm gián đoạn chuỗi cung ứng, giá dầu và khí tăng mạnh, chậm hoặc đứt nguồn nhập khẩu, hệ thống logistics bị ảnh hưởng đáng kể, hoặc xuất hiện nguy cơ thiếu điện, thiếu xăng dầu, thiếu khí trên diện rộng hay tại các khu vực trọng yếu của Thành phố.
Trong điều kiện đó, Thành phố phải chuyển sang trạng thái điều hành theo tình huống khẩn cấp, với yêu cầu cao nhất là giữ vững hoạt động của các lĩnh vực thiết yếu và hạn chế thấp nhất tác động lan truyền đến nền kinh tế - xã hội. Cần khẩn trương huy động các nguồn dự phòng; tăng “đệm tồn kho”; triển khai điều phối liên ngành, liên vùng; ưu tiên tuyệt đối cho các lĩnh vực trọng yếu như điện lực, y tế, cấp nước, giao thông công cộng, logistics hàng hóa thiết yếu, hạ tầng kỹ thuật quan trọng và dân sinh. Đồng thời, cần kịp thời báo cáo, đề xuất cấp có thẩm quyền xử lý những nội dung vượt thẩm quyền của địa phương, nhất là các vấn đề liên quan đến nguồn nhập khẩu, điều hành liên vùng hoặc cơ chế dự trữ chiến lược.
5. Một số yêu cầu đặt ra trong tổ chức thực hiện các kịch bản
Để các kịch bản nêu trên có thể vận hành hiệu quả trong thực tế, cần đồng thời bảo đảm một số điều kiện nền tảng. Trước hết là phải có hệ thống dữ liệu đủ tin cậy, cập nhật và liên thông về cung - cầu, tồn kho, phụ tải, công suất, năng lực kho bãi, lịch nhập hàng và trạng thái vận hành của hệ thống. Tiếp theo là phải xác định rõ đầu mối chỉ huy, phối hợp và phân công trách nhiệm giữa các sở, ngành, doanh nghiệp, địa phương. Bên cạnh đó, cần làm rõ ngưỡng chuyển trạng thái từ kịch bản bình thường sang kịch bản rủi ro, để việc kích hoạt phương án điều hành được kịp thời, tránh bị động.
Về lâu dài, các kịch bản bảo đảm năng lượng không nên chỉ được xem là công cụ tình huống, mà cần trở thành một bộ phận của quản trị phát triển đô thị và quản trị tăng trưởng của Thành phố. Chỉ khi công tác dự báo, dự phòng và điều hành năng lượng được tích hợp vào quá trình lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư hạ tầng, tổ chức thị trường và chuyển đổi xanh, thì Thành phố mới có thể vừa giữ được an ninh năng lượng, vừa bảo đảm mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững đến năm 2030.
V. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM
1. Nhóm giải pháp chung
Xây dựng cơ chế giám sát, cảnh báo sớm dùng chung cho điện, xăng dầu và khí; hình thành đầu mối tổng hợp, phân tích, dự báo cung - cầu năng lượng của Thành phố; tăng cường chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp đầu mối, đơn vị vận hành hạ tầng và chính quyền địa phương.
Đồng thời, cần xây dựng cơ chế điều hành linh hoạt theo cấp độ rủi ro, bảo đảm khi thị trường biến động thì các quyết định điều phối được thực hiện nhanh, rõ đầu mối, rõ trách nhiệm và rõ đối tượng ưu tiên.
2. Giải pháp đối với điện
Bảo đảm cấp điện cho phụ tải trọng yếu, các khu vực phát triển công nghiệp, logistics, thương mại, dịch vụ và các công trình hạ tầng thiết yếu; tăng độ tin cậy của lưới điện; chuẩn bị phương án cấp điện dự phòng; đẩy mạnh tiết kiệm điện, điều chỉnh phụ tải; lồng ghép bài toán điện năng với quy hoạch đô thị, hạ tầng số, giao thông điện hóa và chuyển đổi năng lượng.
3. Giải pháp đối với xăng dầu
Tiếp tục rà soát, xử lý các vướng mắc pháp lý của các cửa hàng chưa đủ điều kiện; hoàn thiện quy hoạch và phân bố mạng lưới theo hướng phù hợp với không gian phát triển mới; ưu tiên bổ sung điểm cung ứng tại vùng ven, tuyến giao thông mới, khu công nghiệp, khu vực cảng và hải đảo.
Tăng cường năng lực dự trữ thương mại và điều phối nguồn cung; nâng cao vai trò của hệ thống kho, cảng và doanh nghiệp đầu mối trong bảo đảm nguồn hàng; tăng cường kiểm tra, giám sát chất lượng, đo lường, an toàn, môi trường và trách nhiệm duy trì bán hàng liên tục.
Khuyến khích hiện đại hóa hệ thống cửa hàng xăng dầu theo hướng trạm năng lượng đa dịch vụ, tích hợp trạm sạc điện, đổi pin, cung cấp CNG/LNG, thanh toán số và quản trị tồn kho thông minh.
4. Giải pháp đối với khí
Khuyến khích các thương nhân xuất khẩu, nhập khẩu khí đa dạng hóa nguồn cung LPG, CNG, LNG và khả năng dự phòng; tăng cường công tác kiểm tra và trách nhiệm duy trì bán hàng liên tục của các thương nhân
5. Giải pháp về cơ chế dự trữ
Kiến nghị hoàn thiện cơ chế tài chính cho dự trữ quốc gia; đồng thời nghiên cứu cơ chế dự trữ chiến lược cấp Thành phố, gắn với lợi thế cảng biển, kho đầu mối và hạ tầng logistics của Thành phố. Có thể xem xét cơ chế đặt hàng doanh nghiệp duy trì tồn kho bổ sung ngoài mức bắt buộc trong những giai đoạn rủi ro cao, gắn với hỗ trợ phù hợp về tín dụng hoặc chi phí bảo quản.
Trong bối cảnh GRDP Thành phố dự kiến tăng bình quân khoảng 10%/năm đến năm 2030, yêu cầu đặt ra là phải chủ động hơn trong dự báo nhu cầu, chuẩn bị hạ tầng, tăng năng lực dự trữ, đa dạng hóa nguồn cung, nâng cao chất lượng điều hành và vận hành theo kịch bản.
Với cách tiếp cận đó, hệ thống điện, xăng dầu và khí sẽ không chỉ là đầu vào cho tăng trưởng, mà còn trở thành nền tảng chiến lược bảo đảm cho sự phát triển ổn định, bền vững và hiện đại của Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn tới./.
PV
3 giờ trước
18 giờ trước
3 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
6 ngày trước
8 ngày trước
8 ngày trước
8 ngày trước
1 giờ trước
1 giờ trước
5 giờ trước
4 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước