🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Báo cáo tình hình KINH TẾ-XÃ HỘI tháng Tám và 8 tháng năm 2026

7 giờ trước
Cục Thống kê, Bộ Tài chính công bố Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội tháng Tám và 8 tháng năm 2026.

Nội dung Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội tháng Tám và 8 tháng năm 2026

Nội dung Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội tháng Tám và 8 tháng năm 2026 được Cục Thống kê, Bộ Tài chính công bố sáng 3/9/2026.

1. Nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp

Lúa hè thu: Tính đến ngày 20/8/2026, cả nước cơ bản đã hoàn thành gieo cấy với diện tích đạt 1.870,0 nghìn ha, giảm 29,1 nghìn ha so với vụ hè thu năm trước. 

Trong đó, các địa phương phía Bắc đạt 167,5 nghìn ha, giảm 4,9 nghìn ha; các địa phương phía Nam đạt 1.702,5 nghìn ha, giảm 24,2 nghìn ha. Đến nay, cả nước có 723,7 nghìn ha lúa hè thu cho thu hoạch, chiếm 38,7% diện tích xuống giống và bằng 77,5% cùng kỳ năm trước.

Lúa mùa: Tính đến ngày 20/8/2026, cả nước gieo cấy được 1.312,5 nghìn ha, giảm 50,7 nghìn ha so với cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 938,5 nghìn ha, giảm 38,2 nghìn ha; các địa phương phía Nam đạt 374,0 nghìn ha, giảm 12,5 nghìn ha.

Lúa thu đông: Tính đến ngày 20/8/2026, các địa phương phía Nam đã gieo sạ được 292,3 nghìn ha, bằng 64,2% cùng kỳ năm trước.

Cây hằng năm: diện tích một số cây hằng năm giảm so với cùng kỳ năm trước do thời tiết nắng nóng kéo dài gây thiếu nước ở các tỉnh phía Nam, ảnh hưởng đến điều kiện sản xuất nên người dân giảm diện tích canh tác.

Chăn nuôi: Chăn nuôi trâu, bò tiếp tục xu hướng giảm chủ yếu do diện tích chăn thả bị thu hẹp và hiệu quả kinh tế không cao. Chăn nuôi lợn và gia cầm đạt kết quả tích cực. Tổng số lợn cả nước tính đến thời điểm cuối tháng Tám ước tăng 4,2% so với cùng thời điểm năm 2025; tổng số gia cầm tăng 2,8%; tổng số bò giảm 2,1%; tổng số trâu giảm 6,2%.

b) Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước tháng Tám ước đạt 21,3 nghìn ha, giảm 4,9% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 6,0 triệu cây, giảm 4,8%; sản lượng gỗ khai thác đạt đạt 2.372,3 nghìn m3, tăng 4,4%; diện tích rừng bị thiệt hại là 240,6 ha, gấp 7,6 lần, trong đó rừng bị chặt, phá là 37,4 ha, tăng 64,8%; diện tích rừng bị cháy là 203,2 ha, gấp 23,1 lần. Tính chung tám tháng năm 2026, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 180,8 nghìn ha, giảm 3,4% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 63,9 triệu cây, tăng 1,6%; sản lượng gỗ khai thác đạt 16.662,9 nghìn m3, tăng 6,5%; diện tích rừng bị thiệt hại là 1.086,0 ha, tăng 13,1%, trong đó diện tích rừng bị chặt, phá là 374,5 ha, giảm 42,8%; diện tích rừng bị cháy là 711,5 ha, gấp 2,3 lần.

c) Thủy sản

Sản lượng thủy sản tháng Tám ước đạt 991,3 nghìn tấn, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 629,3 nghìn tấn, tăng 6,6%; sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 362,0 nghìn tấn, tăng 0,7%. Tính chung tám tháng năm 2026, sản lượng thủy sản ước đạt 6.949,4 nghìn tấn, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá đạt 4.816,3 nghìn tấn, tăng 2,6%; tôm đạt 1.184,2 nghìn tấn, tăng 7,4%; thủy sản khác đạt 948,9 nghìn tấn, tăng 5,8%.

2. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp tháng Tám tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng Tám ước tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung tám tháng năm 2026, chỉ số IIP tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất của tám tháng so với cùng kỳ năm trước trong nhiều năm qua[1].

Chỉ số sản xuất công nghiệp tám tháng năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng ở cả 34 địa phương.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/8/2026 tăng 1,0% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 3,8% so với cùng thời điểm năm trước.

3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Trong tháng Tám, cả nước có gần 12,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, giảm 14,4% so với tháng trước và giảm 40,5% so với cùng kỳ năm trước; gần 9,5 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 6,5% và giảm 23,8%; 5.322 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 39,0% và giảm 18,5%; 7.566 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 27,1% và tăng 10,1%; 9.631 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 33,6% và tăng 151,2%.

Tính chung tám tháng năm 2026, cả nước có gần 206,4 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, giảm 1,4% so với cùng kỳ năm trước; hơn 88,0 nghìn doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 7,3%; gần 28,6 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 40,3%; hơn 40,8 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 125,5%. Bình quân một tháng có 25,8 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động; 19,7 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.

4. Đầu tư

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Tám ước đạt 105,7 nghìn tỷ đồng, tăng 24,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung tám tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 546,8 nghìn tỷ đồng, bằng 50,5% kế hoạch năm và tăng 18,5% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 bằng 45,3% và tăng 26,4%).

Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam[2]tính đến ngày 31/8/2026 bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 40,63 tỷ USD, tăng 55,4% so với cùng kỳ năm trước.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam tám tháng năm 2026 ước đạt 17,25 tỷ USD, tăng 12,0% so với cùng kỳ năm trước.

Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong tám tháng năm 2026 có 113 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn của phía Việt Nam là 1,21 tỷ USD, gấp 2,8 lần so với cùng kỳ năm trước; có 29 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn điều chỉnh tăng 1,41 tỷ USD, gấp 10,9 lần. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và điều chỉnh) đạt 2,62 tỷ USD, gấp 4,7 lần so với cùng kỳ năm trước.

5. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng Tám ước đạt 150,4 nghìn tỷ đồng.

Lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước tám tháng năm 2026 ước đạt 2.023,8 nghìn tỷ đồng, bằng 80,0% dự toán năm và tăng 16,0% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng Tám ước đạt 238,1 nghìn tỷ đồng.

Lũy kế tổng chi ngân sách Nhà nước tám tháng năm 2026 ước đạt 1.608,3 nghìn tỷ đồng, bằng 50,9% dự toán năm và tăng 13,3% so với cùng kỳ năm trước.

6. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành tháng Tám năm 2026 ước đạt 679,8 nghìn tỷ đồng, tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung tám tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 5.235,5 nghìn tỷ đồng, tăng 13,3% so với cùng kỳ năm 2025, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,6% (cùng kỳ năm 2025 tăng 7,5%).

b) Xuất, nhập khẩu hàng hóa[3]

Trong tháng Tám, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa[4] đạt 109,7 tỷ USD, giảm 0,1% so với tháng trước và tăng 31,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung tám tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 770,14 tỷ USD, là mức cao nhất của tám tháng từ trước đến nay, tăng 28,7% so với cùng kỳ năm trước; trong đó xuất khẩu tăng 22,4%; nhập khẩu tăng 35,3%[5]. Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 20,46 tỷ USD.

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Tám đạt 54,79 tỷ USD, tăng 3,2% so với tháng trước và tăng 26,0% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung tám tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 374,84 tỷ USD, tăng 22,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 74,47 tỷ USD, tăng 7,4%, chiếm 19,9% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 300,37 tỷ USD, tăng 26,9%, chiếm 80,1%.

Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu tám tháng năm 2026, nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 337,99 tỷ USD, chiếm 90,2%.

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Tám đạt 54,91 tỷ USD, giảm 3,1% so với tháng trước và tăng 37,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung tám tháng năm 2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 395,3 tỷ USD, tăng 35,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 105,07 tỷ USD, tăng 23,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 290,23 tỷ USD, tăng 40,1%.

Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu tám tháng năm 2026, nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 372,04 tỷ USD, chiếm 94,1%.

Về thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa tám tháng năm 2026, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 122,0 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 161,9 tỷ USD.

Theo số liệu sơ bộ, cán cân thương mại hàng hóa tháng Tám nhập siêu 0,12 tỷ USD. Tính chung tám tháng năm 2026, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 20,46 tỷ USD[6] (cùng kỳ năm trước xuất siêu 14,02 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 30,6 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 10,14 tỷ USD.

c) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Tám tăng 0,47% so với tháng trước; tăng 3,57% so với tháng 12/2025 và tăng 4,89% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân tám tháng năm 2026, CPI tăng 4,45% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 4,24%.

Chỉ số giá vàng tháng Tám giảm 0,65% so với tháng trước; tăng 16,98% so với cùng kỳ năm 2025; giảm 6,27% so với tháng 12/2025. Bình quân tám tháng năm 2026, chỉ số giá vàng tăng 46,98% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng Tám giảm 0,38% so với tháng trước; giảm 0,36% so với cùng kỳ năm 2025; giảm 0,38% so với tháng 12/2025. Bình quân tám tháng năm 2026, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,31% so với cùng kỳ năm trước.

d) Vận tải hành khách và hàng hóa

Vận tải hành khách tháng Tám ước đạt 658,6 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 17,9% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 32,1 tỷ lượt khách.km, tăng 16,0%. Tính chung tám tháng năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 4.687,5 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 234,3 tỷ lượt khách.km, tăng 13,1%.

Vận tải hàng hóa tháng Tám ước đạt 324,0 triệu tấn, tăng 17,6% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 63,0 tỷ tấn.km, tăng 17,3%. Tính chung tám tháng năm 2026, vận tải hàng hóa ước đạt 2.285,1 triệu tấn, tăng 16,7% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 450,5 tỷ tấn.km, tăng 12,9%.

đ) Khách quốc tế đến Việt Nam

Việt Nam tiếp tục là điểm đến hấp dẫn đối với du khách quốc tế nhờ chính sách thị thực thuận lợi, công tác xúc tiến, quảng bá được đẩy mạnh, sản phẩm du lịch đa dạng cùng với lợi thế về cảnh quan thiên nhiên, văn hóa, ẩm thực và chi phí du lịch hợp lý. Trong tháng Tám, khách quốc tế đến nước ta ước đạt 1,99 triệu lượt người, tăng 19,7% so với tháng trước và tăng 18,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung tám tháng năm 2026, khách quốc tế đến Việt Nam đạt 15,9 triệu lượt người, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước và là số lượt khách đến nước ta cao nhất của 8 tháng các năm trong nhiều năm qua.

7. Một số tình hình xã hội

Theo kết quả sơ bộ Điều tra lao động việc làm, tình hình đời sống dân cư trong tháng Tám nhìn chung duy trì ổn định. Tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập trong tháng không thay đổi và tăng lên so với tháng cùng kỳ năm trước là 96,5% (giảm 0,2 điểm phần trăm so với kỳ báo cáo tháng Bảy và giảm 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước); tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập giảm và không biết là 3,5%.

Công tác bảo đảm an sinh xã hội luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện. Tính từ đầu năm đến nay (đến ngày 26/8/2026), Chính phủ đã hỗ trợ cho người dân 18,1 nghìn tấn gạo, trong đó: Hỗ trợ gần 9,1 nghìn tấn gạo cứu đói nhân dịp Tết Nguyên đán cho 604,6 nghìn nhân khẩu; hỗ trợ hơn 8,2 nghìn tấn gạo cứu đói giáp hạt cho 547,2 nghìn nhân khẩu; hỗ trợ hơn 887,4 tấn gạo khắc phục hậu quả thiên tai, mưa lũ cho 59,1 nghìn nhân khẩu.

Tri ân người có công: Tính đến ngày 22/8/2026, “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ, các lực lượng đã tìm kiếm, quy tập được 1.863 hài cốt liệt sĩ, trong đó 839 hài cốt được tìm thấy trong nước, 174 hài cốt tại Lào và 850 hài cốt tại Cam-pu-chia.

Y tế: Tính chung từ đầu năm đến nay, cả nước có hơn 78,3 nghìn người mắc bệnh sốt xuất huyết (13 người chết[7]); hơn 67,3 nghìn người mắc tay chân miệng (11 người chết); 5.005 người sốt phát ban nghi sởi; 210 người viêm não vi rút (01 người chết); 33 người viêm màng não do não mô cầu (05 người chết); 46 người chết do bệnh dại.

Tai nạn giao thông: Trong tháng Tám (từ ngày 15/7-14/8/2026), cả nước xảy ra 1.280 vụ tai nạn giao thông, làm chết 805 người và bị thương 748 người. Tính chung tám tháng năm 2026, trên địa bàn cả nước xảy ra 12.347 vụ tai nạn giao thông, làm chết 7.048 người và bị thương 8.130 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 17,2%; số người chết giảm 9,4%; số người bị thương giảm 27,1%. Bình quân một ngày trong tám tháng năm 2026, trên địa bàn cả nước xảy ra 42 vụ tai nạn giao thông, làm chết 26 người, bị thương 24 người.

Thiệt hại do thiên tai: Trong tháng Tám chủ yếu do ảnh hưởng của mưa lốc, giông sét. Tính chung tám tháng năm nay, thiên tai làm 50 người chết và mất tích, 91 người bị thương; 80,4 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hỏng; 12,5 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và hư hỏng; tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính 2.681,9 tỷ đồng, giảm 83,5% so với cùng kỳ năm 2025.

Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ: Trong tháng Tám (từ ngày 26/7-23/8/2026)[8], các cơ quan chức năng phát hiện 1.221 vụ vi phạm môi trường tại 31/34 địa phương. Tính chung tám tháng năm 2026, các cơ quan chức năng phát hiện 12.770 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 10.015 vụ với tổng số tiền phạt 187,7 tỷ đồng, tăng 31,7% so với cùng kỳ năm trước; trên địa bàn cả nước xảy ra 2.001 vụ cháy, nổ, làm 64 người chết và 94 người bị thương, thiệt hại ước tính 618,6 tỷ đồng, gấp gần 3,2 lần cùng kỳ năm trước./.

[1] Tốc độ tăng, giảm chỉ số sản xuất công nghiệp tám tháng so với cùng kỳ năm trước giai đoạn 2019-2026 lần lượt là: 9,5%; 2,2%; 5,5%; 9,2%; -0,2%; 8,4%; 8,5%; 11,9%.

[2] Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính, nhận ngày 02/9/2026.

[3] Kim ngạch xuất khẩu tính theo giá F.O.B và kim ngạch nhập khẩu tính theo giá C.I.F (bao gồm chi phí vận tải, bảo hiểm của hàng nhập khẩu).

[4] Số liệu sơ bộ xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa tháng Tám do Cục Hải quan cung cấp ngày 01/9/2026.

[5] Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tám tháng năm 2025 đạt 598,25 tỷ USD, tăng 16,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 306,14 tỷ USD, tăng 14,9%; nhập khẩu đạt 292,12 tỷ USD, tăng 18,0%.

[6] Một số mặt hàng nhập siêu cao: Điện tử, máy tính và linh kiện 60,6 tỷ USD; xăng dầu 7,4 tỷ USD; chất dẻo 6,7 tỷ USD; than các loại 6,2 tỷ USD; dầu thô 5,3 tỷ US; sản phẩm hóa chất 3,9 tỷ USD; hóa chất 3,9 tỷ USD.

[7] Bổ sung 03 ca tử vong vào các tháng Năm, Sáu, Bảy năm 2026.

[8] Theo báo cáo từ Sở Nông nghiệp và Môi trường, Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do Thống kê cấp tỉnh tổng hợp.

Infographic Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội tháng Tám năm 2026

TIN LIÊN QUAN
























Home Icon VỀ TRANG CHỦ