🔍
Chuyên mục: Văn hóa

'Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân': mê cung chữ, mê cung phận người

1 giờ trước
Tiểu thuyết Hồ Anh Thái không có yếu tố tự truyện. Nhưng đọc nhiều tác phẩm của ông cảm giác về cái tôi nhà văn luôn đậm rõ.

Trong tiểu thuyết Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân (*), với cấu trúc “truyện trong truyện” đa tầng, Hồ Anh Thái đã xen vào một văn bản đặc biệt là cuốn nhật ký của một người lính Việt Nam được dịch và xuất bản tại Mỹ. Chung quanh cuốn nhật ký là những sự kiện lịch sử, kể cả cuộc bàn bạc giữa bà biên tập và người dịch về những cái tên đề xuất (từ “Người sinh viên nheo mắt trái”, “Chùm hoa sữa rơi xuống đầu tôi” đến “Một bông hoa rơi xuống đầu tôi: Nhật ký và thơ của một người lính Hà Nội trong chiến tranh Việt Nam”).

Câu chuyện bếp núc văn chương này đã thể hiện phong cách Hồ Anh Thái, nhà văn luôn chọn những nhan đề lạ, gợi trong suốt hành trình sáng tác dày dặn của mình. Với Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân, Hồ Anh Thái đặt người đọc vào một tình thế đối thoại ngay từ ký hiệu thẩm mỹ đầu tiên. Một văn bản mở. Một không gian dịch chuyển liên tục. Một tác giả/người đọc nghi vấn. Nhiều câu hỏi ngầm dồn nén trong nhan đề, khơi gợi trường liên tưởng. Những không gian giả định. Nhiều tình huống éo le. Nhiều phận người.

Chuyện: những mảnh ghép và hiệu ứng cánh bướm

Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân có một mạng lưới “chuyện” chằng chịt, tưởng là rời rạc nhưng đều có mối liên hệ chặt chẽ. Tất cả đan quyện vào nhau, có lúc như một mê cung chuyện với kết cấu trần thuật khá đặc biệt: hai cốt truyện song song và chẻ nhánh.

Một cốt truyện diễn ra trong hiện tại ở sảnh sân bay, nơi diễn ra mọi mặt của đời sống đa văn hóa. Một cốt truyện nằm trong bản thảo được để lại ở sảnh Sleep Pod, kể về nhiều chuyện gắn với những đời tư, những số phận, những miền ký ức xa xưa. Sự chồng lớp các văn bản tạo nên một mạch tự sự phong phú, nơi quá khứ và hiện tại, chiến tranh và đời sống thường nhật cùng tồn tại và luôn đối thoại với nhau.

Là nhà văn có nhiều trải nghiệm xuyên quốc gia và am hiểu các nền văn hóa, Hồ Anh Thái chọn bối cảnh nền là sảnh lễ tân ở sân bay, nơi nhân vật “anh” phải ba lần stand-by vì khung giờ quá đặc biệt, nơi dịch chuyển, tụ hợp các chủng tộc và văn hóa khác nhau. Sảnh lễ tân sân bay chính là biểu tượng cho kiểu va chạm/đối thoại văn hóa.

Nhìn tổng quát, cuốn tiểu thuyết xoay quanh số phận của ba người phụ nữ thuộc ba thế hệ Bà - Mẹ - Con, những con người bị cuốn vào dòng chảy dữ dội của lịch sử suốt gần một thế kỷ. Như nhiều tác phẩm trước đây, Hồ Anh Thái không đặt tên cho nhân vật. Nhà văn gọi những người phụ nữ đặc biệt này là Nàng, Cô và Bé. Mỗi người đều có một phận đời đặc biệt, đa đoan; họ đều đi qua vài cuộc hôn nhân, kể cả với những người đàn ông mang quốc tịch khác nhau là Pháp, Nga, Mỹ. Họ trở thành một phần của dòng chảy lịch sử.

Qua cuộc đời họ là cuốn biên niên sử về đất nước. Chống Pháp, chống Mỹ, thời bao cấp, thời hiện đại. Chiến tranh, ly tán, lìa bỏ quê hương; những mối tình ngang trái éo le; yêu thương thù hận chết chóc. Mối quan hệ giữa Việt Nam và các nước cũng hiện ra rõ nét qua cuộc đời xoay vần nhiều khúc đoạn của ba người phụ nữ đặc biệt này.

Với lối viết riêng đã thành “dấu vân tay”, Hồ Anh Thái dẫn dắt tạo tình huống tự nhiên cùng những liên tưởng phong phú. Câu chuyện được kể từ nhiều phía, nhiều điểm nhìn. Chuyện ở sảnh sân bay, chuyện trong chiến khu, chuyện ở nhà hát ả đào, trong phố Tây và căn biệt thự thời chống Pháp, chuyện nước Nga, chuyện đánh Mỹ, chuyện tem phiếu, kể cả những câu chuyện về động vật, những con vật dị biệt ngầm mang tiếng nói của loài người.

Hiệu ứng cánh bướm trở thành một thủ pháp nghệ thuật đặc trưng, một rung động nhỏ từ quá khứ có thể tạo nên cơn bão xoay vần số phận ở hiện tại. Từ ba lần stand-by ở sân bay mở rộng đến những vùng đất lạ. Từ cô gái này đến cô handsome kia như những mảnh vỡ nhân dạng mang tính thời đại. Chuyện hồ Gươm. Chuyện Tây lông bị chó cắn ghen tuông thành câu chuyện bí ẩn như huyền thoại anh hùng. Những câu chuyện tam sao thất bản thành huyền thoại mới. Huyền thoại và giải thiêng. Cũng có chuyện ấm áp nhân tình. Chuyện của anh lính cần vụ chưa ra trận nhưng luôn mang nỗi nhớ chiến trường; chuyện về những người lính trẻ trao vội vàng những lá thư cho người xa lạ chỉ mong nó đến được với gia đình; chuyện quả sấu và hoa sữa Hà Nội…

Hồ Anh Thái viết về đám đông rất thú vị. Những đám đông tiêu biểu trong từng bối cảnh khác nhau. Đám đông và luật tôn giáo qua phiên xử “tội hủ hóa” trong sân vận động trước một vạn người xem. Những tấm pano biểu ngữ ca ngợi đạo đức trinh tiết ở bốn phía khán đài, “rõ mồn một”, phô ra diễn ra những khoảng tối khoảng kín của con người. Đám đông chen chúc đi thăm núi lửa bất kể nó phun trào lúc nào. Đàn kiến. Đám đông cuống cuồng vì động đất được dự báo. Đám đông phụ nữ xếp hàng riêng ở cổng an ninh để khám phụ khoa vì người ta phát hiện một thai nhi sơ sinh bị bỏ vào thùng rác trong phòng vệ sinh nữ ở sân bay. Đám đông chùa chiền lễ hội. Đám đông tắc đường, còi và còi xé tai...

Hình tượng đám đông phản ánh bản chất xã hội, qua đó bộc lộ cái nhìn trào lộng, mỉa mai nhưng cũng đầy trăn trở của Hồ Anh Thái về văn hóa con người. Đám đông phô diễn hết căn tính của mỗi tộc người, tâm lý xã hội và hệ giá trị của cộng đồng. Những thói quen. Hiệu ứng ăn theo. Mê tín và sùng bái. Văn hóa và mặc cảm. Thiêng và giải thiêng. Ký ức văn hóa và khủng hoảng niềm tin hiện đại. Tất cả được nhà văn bóc tách, lý giải như một hiện tượng tâm lý - xã hội phức tạp. Từ những đám đông, các góc khuất của văn hóa cộng đồng bị phơi bày trần trụi.

Có quá nhiều chuyện. Mỗi chuyện là một mảnh ghép hoặc nhiều mảnh rời xa nhau được níu lại gần nhau. Toàn những chuyện phi lý. Chiến tranh, nhốn nháo đời thường, sex thú, sex người, án mạng, tòa án binh để xử chó. Dịch Covid-19. Vô lý, tình tiết nào cũng như bịa nhưng đều hợp lý bởi cách dẫn giải cặn kẽ của người kể chuyện. Như hiệu ứng domino, tất cả như những móc xích tạo nên một thế giới xô bồ nhưng vẫn lớp lang, nhân quả. Từ cái nhìn chi tiết đến cái nhìn bao quát, sự xâm nhập thơ, điện ảnh, chính luận, huyền thoại/giải huyền thoại vào tiểu thuyết khiến tác phẩm nhiều giọng điệu, đối thoại đa dạng. Nhẩn nha, lúc nén lúc mở, giọng bỡn cợt lẫn triết lý làm nên sức hấp dẫn. Từ một tình huống đặc biệt ở sảnh lễ tân, tác phẩm mở ra một khoảng thời gian đứt gãy kéo dài xuyên thế kỷ, với những vấn đề lớn xuyên thời đại, đa văn hóa.

Trong thế giới nghệ thuật của Hồ Anh Thái, các dấu tích văn hóa của nhiều vùng miền gặp gỡ, đan xen và đối thoại với nhau. Văn hóa Hồi giáo phương Đông, đặc biệt là ba nền văn hóa Pháp, Nga, Mỹ giao thoa, va đập trong từng chặng đời của các nhân vật. Một nước Pháp thực dân nhưng cũng để lại nhiều kiến trúc hiện đại, bền vững. Một nước Nga lãng mạn của những điệu ballet, bài hát Cây thùy dương, bức tranh Người đàn bà xa lạ…; nhưng cũng có một nước Nga thời hậu Xô Viết nhốn nháo, cạn kiệt, lay lắt. Một nước Mỹ đề cao ẩm thực Việt, những món đồ lưu niệm Trung Hoa và các thư viện lưu giữ đầy sách viết về Việt Nam. Tất cả nằm trong một bản thảo bỏ lại trong một sảnh lễ tân ở sân bay Hà Nội, như một ký ức về lịch sử và phận người.

Truyện: Văn chương và phận người

Hồ Anh Thái không chỉ kể về câu chuyện, mà nhà văn kể về quá trình tạo ra câu chuyện. Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân thuộc dạng siêu tiểu thuyết. Trọng tâm tác phẩm là tập bản thảo của một người viết vô danh cố tình để lại ở sảnh lễ tân sân bay và được “anh” tình cờ nhặt lấy. Từ đây, truyện mở ra một lớp tự sự khác - câu chuyện về hai thế hệ phụ nữ (“nàng” và “cô”) đi qua những biến động lịch sử.

Khi nhà xuất bản gửi thư yêu cầu “anh” viết tiếp thế hệ thứ ba (“bé”), vai trò của người đọc dần chuyển thành vai trò người viết. Cuối cùng, anh nhận ra chính mình có thể là tác giả của bản thảo đó. Những email gửi đi rồi quay trở lại chính người gửi, những điểm nhìn bị tráo đổi, những vai kể liên tục dịch chuyển đã tạo nên một cấu trúc tự sự mang tính mê cung. Ở đó, ranh giới giữa tác giả, nhân vật và độc giả bị xóa nhòa. Nhà văn không xuất hiện như một chủ thể toàn tri mà luôn hoài nghi chính câu chuyện mình đang viết. Bằng cách đó, Hồ Anh Thái biến tiểu thuyết thành một trò chơi nghệ thuật diễn ngôn, nơi hành vi đọc đồng thời cũng là hành vi đối thoại, phản biện và đồng sáng tạo.

Trong thế giới nghệ thuật của Hồ Anh Thái, các dấu tích văn hóa của nhiều vùng miền gặp gỡ, đan xen và đối thoại với nhau. Ảnh: CTV

Tình huống “anh” nhặt được bản thảo trong lúc chờ đợi, để rồi cuối cùng nhận ra mình vừa là người đọc, vừa là tác giả, chính là một trò chơi nghệ thuật bất ngờ. Cuốn bản thảo chưa từng được in trở thành cuốn biên niên sử sống động về những giai đoạn lớn của đất nước: từ khói lửa chống Pháp, chống Mỹ đến cái ngột ngạt của thời bao cấp và sự xô bồ của thời đại mới.

Đây là một mảng đề tài tưởng dễ viết và khó mới, ngỡ là quen thuộc nhưng dưới ngòi bút của Hồ Anh Thái vẫn mở ra những ngả ngách bất ngờ. Cái đẹp của tiểu thuyết không nằm ở sự đối xứng giữa hai tuyến truyện mà ở sự vênh lệch, đứt gãy gây hiệu ứng thẩm mỹ. Có cái nhân văn của những năm tháng chiến tranh. Có cái khốc liệt và gian trá. Huyền ảo ma mị. Trần trụi bản năng. Triết lý và trữ tình. Hồ Anh Thái luôn triết lý, nhưng không bác học khô khan mà ẩn sau một giọng tếu táo bông đùa. Qua những ký hiệu thẩm mỹ nhà văn tái cấu trúc lịch sử, biến những sự kiện khô khốc thành những thân phận người qua lăng kính giễu nhại nhưng đầy suy tư.

Kết thúc tác phẩm lại càng bất ngờ. Sau tất cả những gì nhân vật “anh” đã viết, đã trải qua, chiến tranh, dục vọng, cái chết, những cuộc gặp gỡ kỳ dị, nạn dịch… cuối cùng anh chỉ còn là một con người bé nhỏ kéo chiếc va li giữa đời. Bìa cuốn tiểu thuyết tạo hiệu ứng nghệ thuật thị giác, vừa như một chuỗi domino vừa như một mê cung. Bìa sách đã thu tóm hồn cốt của cuốn tiểu thuyết dày 469 trang. Những trang giấy rời, ghép nối nhau theo kiểu domino, ngay giữa trung tâm là cái bóng của một con người nhỏ bé đổ xuống những mảnh giấy ố vàng, bên cạnh là cái va li cũng nhỏ như một món đồ chơi. Người và bóng, bóng và người chênh vênh giữa một mê cung chữ, mê cung đời. Có nhiều văn bản lồng ghép nhưng sườn chính của tiểu thuyết được tổ chức theo cấu trúc domino.

Sự dẫn dắt tự nhiên từ sân bay đông đúc đến vắng lặng một cách phi lý. Tất cả những chuyện dồn dập diễn ra rồi bất ngờ tan biến. Còn lại chỉ là cái bóng/hạt cát người nhỏ nhoi. Cái vô thường thấp thoáng. Hiện sinh cái kiếp con người đậm nhạt. Tất cả như một trò chơi. Trò chơi của thượng đế. Trò chơi của văn chương. “Nếu có một ông thượng đế từ trên cao nhìn xuống, ngài sẽ thấy anh bé li ti như hạt đỗ xanh kéo theo một chiếc va li như kéo một cái hộp đồ chơi, bám ngay theo đằng sau nó là một chiếc xe ô tô, cũng như một chiếc xe đồ chơi”.

Đoạn kết của Bản thảo để lại ở sảnh lễ tân ẩn chứa những vấn đề lớn về văn chương, số phận của chữ nghĩa, tâm thế cô độc của người viết và sâu xa hơn là thân phận con người. Vấn đề muôn thuở của văn chương nhân loại được gói gọn trong mấy dòng chữ khép lại cuốn tiểu thuyết kể về những biến động lịch sử xuyên nhiều thập niên. Hiệu ứng domino đã giữ người đọc từ đầu đến cuối tác phẩm. Từ khi tác giả đặt quân domino đầu tiên đến lúc ném quân cờ cuối cùng, mọi chuyện diễn biến như một trò chơi. Tiếng cười giễu cợt lắng xuống, còn lại là nỗi niềm của một nhà văn về lịch sử dân tộc, về nhân sinh, thế sự.

Nhà văn nói về thượng đế trên cao nhưng dường như có một con người khác thảng thốt hoài nghi thượng đế đã chết. Phải chăng đó là nỗi cô-đơn-viết của một nhà Đông phương học nhận ra thượng đế không còn. Tiểu thuyết Hồ Anh Thái không có yếu tố tự truyện. Nhưng đọc nhiều tác phẩm của ông cảm giác về cái tôi nhà văn luôn đậm rõ. Tác giả vừa tách mình ra khỏi văn bản, lại vừa hiện diện một cách vô thức giữa những trang văn như một nhân cách văn hóa, một nhân cách văn chương.

Lê Thị Hường

____________

(*) Tiểu thuyết của Hồ Anh Thái, Nhã Nam và NXB Hà Nội ấn hành 2026

TIN LIÊN QUAN



















Home Icon VỀ TRANG CHỦ