🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Bài 3: Để cộng đồng thực sự là chủ thể của nguồn lực văn hóa

13 phút trước
Khơi dậy nguồn lực văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ là câu chuyện làm ra thêm một sản phẩm, mở thêm một điểm du lịch hay đưa một đặc sản vào hệ thống phân phối. Mà sâu xa hơn là cộng đồng có thực sự được hưởng lợi từ giá trị gia tăng và có thêm động lực trao truyền những giá trị ấy cho thế hệ sau hay không.

Khơi dậy nguồn lực văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ là câu chuyện làm ra thêm một sản phẩm, mở thêm một điểm du lịch hay đưa một đặc sản vào hệ thống phân phối. (Ảnh: CÔNG LÝ)

Một sản phẩm có thể được đóng gói đẹp hơn, bán ở một thị trường lớn hơn, xuất hiện trên một nền tảng hiện đại hơn. Nhưng phía sau sản phẩm ấy vẫn là một cộng đồng. Đó có thể là những người gìn giữ nghề dệt, những người truyền lại kỹ thuật sản xuất, những người am hiểu cây thuốc, những người nắm giữ tri thức canh tác, những người gìn giữ tiếng hát, lễ hội, hoa văn, ẩm thực và những phương thức sinh hoạt được trao truyền qua nhiều thế hệ. Vì vậy, khi văn hóa trở thành nguồn lực phát triển, câu hỏi đầu tiên không chỉ là làm thế nào để tạo ra giá trị kinh tế, mà còn phải là ai là chủ thể của giá trị ấy và ai được hưởng lợi từ quá trình tạo ra nó.

Đây là một trong những vấn đề cốt lõi được đặt ra khi triển khai tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Bà Nguyễn Thị Hồng Huệ, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách, Bộ Dân tộc và tôn giáo, cho rằng điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là khoảng cách giữa giá trị văn hóa mà cộng đồng đang nắm giữ và giá trị kinh tế mà thị trường có thể tạo ra từ những giá trị đó. Khoảng cách ấy không chỉ nằm ở sản phẩm, nó nằm ở cách tổ chức giá trị.

Bà Nguyễn Thị Hồng Huệ, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách, Bộ Dân tộc và Tôn giáo. (Ảnh: AN NGUYÊN)

Một khoảng trống lớn từ văn hóa đến sinh kế

Theo kết quả điều tra 53 dân tộc thiểu số năm 2024 được nêu tại tọa đàm “Hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW: Khơi dậy nguồn lực văn hóa, nâng tầm đặc sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số” do Tạp chí Công thương tổ chức, trong gần 3,9 triệu hộ dân tộc thiểu số, chỉ có 6.114 hộ làm dịch vụ du lịch và 10.568 hộ làm nghề thủ công truyền thống, trong khi số hộ sản xuất nông, lâm, thủy sản lên tới 2.778.126 hộ. Những con số này cho thấy quá trình chuyển dịch từ tài nguyên văn hóa và tri thức bản địa sang các ngành nghề, sản phẩm có giá trị gia tăng cao còn rất hạn chế.

Điều đó đặt ra một vấn đề lớn, kho tàng văn hóa có thể rất phong phú, nhưng nếu cộng đồng vẫn chủ yếu tham gia vào những công đoạn tạo ra giá trị thấp, trong khi những khâu thiết kế, xây dựng thương hiệu, phân phối và tiêu thụ nằm ở nơi khác, thì phần giá trị kinh tế tạo ra từ văn hóa khó có thể quay trở lại đầy đủ với cộng đồng. Bởi vậy, mục tiêu của phát triển không chỉ là đưa sản phẩm ra thị trường. Mục tiêu là đưa cộng đồng vào trong chuỗi giá trị.

Trong quá trình phát triển sản phẩm, có một nguy cơ cộng đồng được nhắc đến như nguồn cảm hứng, nguồn nguyên liệu hoặc “câu chuyện thương hiệu” nhưng lại không tham gia thực chất vào quá trình quyết định sản phẩm. Ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Bộ Công thương nhấn mạnh, đồng bào không chỉ cung cấp nguyên liệu hay hình ảnh cho câu chuyện thương hiệu. Cộng đồng phải được tham gia để quyết định cách sử dụng các yếu tố văn hóa, được ghi nhận quyền đối với tri thức và thiết kế truyền thống, được nâng cao năng lực kinh doanh và hưởng lợi công bằng từ phần giá trị gia tăng.

Mục tiêu của phát triển không chỉ là đưa sản phẩm ra thị trường, mục tiêu là đưa cộng đồng vào trong chuỗi giá trị.

Đây là yêu cầu có ý nghĩa nền tảng, bởi nếu hiểu sâu xa một hoa văn thổ cẩm, một bài Then, một kỹ thuật chế biến, một phương thức canh tác hay một nghi thức cộng đồng đều có lịch sử và chủ thể. Nếu đưa những giá trị ấy vào sản phẩm mà tách chúng khỏi cộng đồng, quá trình thương mại hóa có thể tạo ra giá trị kinh tế nhưng lại làm suy giảm giá trị văn hóa. Ngược lại, nếu cộng đồng được tham gia thực chất, sản phẩm không chỉ có nguồn gốc rõ ràng hơn mà còn có khả năng giữ được tính xác thực.

Du lịch là lĩnh vực cho thấy rõ nhất sự giằng co này, ông Hoàng Hoa Quân, Phó trưởng phòng Phòng Lữ hành, Cục Du lịch quốc gia Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho rằng thách thức lớn là phải cân bằng giữa thương mại hóa và bảo tồn. Nếu nghiêng quá về thương mại hóa, một số nơi có thể làm sai lệch bản chất văn hóa truyền thống. Nhưng nếu quá cẩn trọng trong bảo tồn, nghề truyền thống có thể khó tồn tại bởi sản phẩm mất nhiều thời gian nhưng không đủ khả năng nuôi sống nghệ nhân.

Đó là một bài toán không thể bảo tồn bằng cách đóng băng văn hóa. Cũng không thể phát triển bằng cách biến văn hóa thành một lớp vỏ trang trí cho sản phẩm. Con đường phù hợp là giữ những giá trị cốt lõi, đồng thời tổ chức lại cách thể hiện để văn hóa có thể sống trong đời sống hiện đại. Đó cũng là lý do ngành du lịch nhấn mạnh việc chuyển hóa tri thức bản địa, di sản và những giá trị văn hóa vô hình thành giá trị kinh tế hữu hình thông qua sản phẩm, trải nghiệm và câu chuyện gắn với điểm đến.

Ông Hoàng Hoa Quân (ở giữa), Phó Trưởng phòng Phòng Lữ hành, Cục Du lịch quốc gia Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Trong cách tiếp cận ấy, du lịch có thể trở thành cầu nối giữa văn hóa và thị trường. Doanh nghiệp du lịch không chỉ bán một chuyến đi, họ có thể “đóng gói” câu chuyện sản phẩm để du khách vừa sử dụng sản phẩm hữu hình, vừa hiểu được những giá trị văn hóa phía sau.

Dẫn chứng được đưa ra tại tọa đàm là làng rau Trà Quế ở Quảng Nam, nay thuộc thành phố Đà Nẵng. Từ một nghề trồng rau truyền thống 400 năm, nơi đây phát triển trải nghiệm để du khách, đặc biệt khách quốc tế, tham gia vào hoạt động nông nghiệp trong thời gian ngắn, trải nghiệm sản phẩm và thưởng thức món ăn từ chính sản vật của làng.

Điều đáng chú ý ở đây không chỉ là bán rau hay bán một món ăn. Giá trị được tạo ra từ chính tri thức, nghề nghiệp và văn hóa cộng đồng. Du khách trả tiền cho một trải nghiệm, cộng đồng có thêm nguồn thu, nghề truyền thống có thêm lý do để tiếp tục tồn tại. Đó là cách mà giá trị văn hóa vô hình có thể được chuyển hóa thành giá trị kinh tế hữu hình mà không nhất thiết phải tách văn hóa khỏi không gian sống của cộng đồng.

Thực tiễn Phú Thọ cũng cho thấy một hướng phát triển đáng chú ý. Theo ông Nguyễn Đình Tứ, Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Phú Thọ, trước đây một số vùng của Hòa Bình làm du lịch còn nhỏ lẻ, manh mún, thậm chí chỉ có vài hộ. Nhưng hiện nay đã hình thành những cộng đồng cả làng cùng làm du lịch. Hoạt động không chỉ dừng ở ăn, ngủ, nghỉ mà còn có dệt thổ cẩm, rau sạch, gà sạch, cá sạch, mật ong rừng và các sản phẩm OCOP.

Điểm đáng chú ý ở đây là quy mô của chủ thể, khi chỉ một vài hộ tham gia, giá trị kinh tế và văn hóa dễ bị phân tán. Khi cả cộng đồng cùng tham gia, những hoạt động tưởng như riêng lẻ có thể hình thành một hệ sinh thái: lưu trú, ẩm thực, sản xuất, nghề thủ công, nông sản và trải nghiệm văn hóa hỗ trợ lẫn nhau. Cộng đồng vì thế không còn đứng ngoài hoạt động du lịch. Cộng đồng trở thành một phần của sản phẩm du lịch.

Ông Tống Văn Viện, Giám đốc, Hợp tác xã Nông sản Phú Lương (Thái Nguyên).

Ông Tống Văn Viện, Giám đốc, Hợp tác xã Nông sản Phú Lương (Thái Nguyên) cho biết, trước đây người dân sản xuất nhỏ lẻ và thường bán cho tiểu thương. Hợp tác xã đồng hành với bà con để áp dụng khoa học kỹ thuật, nâng cao công nghệ chế biến và đưa thương hiệu tới gần hơn với người tiêu dùng. Đồng thời, hợp tác xã mong muốn thông qua phát triển sản phẩm nông đặc sản để phục dựng đàn Tính, hát Then và các lễ hội văn hóa của người Tày. Đó chính là một vòng tròn phát triển mà ở đó văn hóa và kinh tế không loại trừ nhau.

Nhà nước kiến tạo, doanh nghiệp kết nối, cộng đồng làm chủ

Để vòng tròn ấy vận hành, không thể đặt toàn bộ trách nhiệm lên vai cộng đồng. Bà Nguyễn Thị Hồng Huệ, Phó Vụ trưởng Chính sách, Bộ Dân tộc và Tôn giáo cho rằng cần hình thành mối liên kết thực chất giữa Nhà nước, địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo chính sách, định hướng và điều phối nguồn lực; địa phương tổ chức thực hiện, xác định và phát huy những giá trị, sản phẩm có lợi thế; doanh nghiệp kết nối thị trường, hoàn thiện sản phẩm, xây dựng thương hiệu và tổ chức tiêu thụ; còn cộng đồng phải là chủ thể sáng tạo, gìn giữ và trực tiếp hưởng lợi.

Mỗi chủ thể có một vai trò khác nhau nhưng nếu thiếu một mắt xích, chuỗi giá trị khó hoàn chỉnh. Đặc biệt, cần thay đổi tư duy từ “làm ra sản phẩm rồi mới tìm thị trường” sang “phát triển sản phẩm theo nhu cầu thị trường nhưng trên nền tảng giá trị văn hóa của cộng đồng”. Doanh nghiệp, nhà thiết kế, đơn vị du lịch và cộng đồng cần tham gia ngay từ khâu lựa chọn giá trị, thiết kế, hoàn thiện sản phẩm tới quảng bá và tiêu thụ.

Nếu cộng đồng được tham gia thực chất, sản phẩm không chỉ có nguồn gốc rõ ràng hơn mà còn có khả năng giữ được tính xác thực.

Đó là cách để tránh hai cực đoan, một bên là giữ văn hóa nhưng sản phẩm không có khả năng sống bằng thị trường. Một bên là chạy theo thị trường đến mức làm biến dạng văn hóa.

Một yêu cầu khác được đặt ra là thay đổi cách hỗ trợ, nếu Nhà nước chỉ hỗ trợ từng chương trình, từng cuộc xúc tiến, từng đợt quảng bá, hiệu quả khó có thể bền vững mà cần chuyển sang phát triển chuỗi giá trị. Ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn đề xuất từ hỗ trợ dàn trải sang phân nhóm thị trường và sản phẩm; từ truy xuất hành chính sang “hộ chiếu sản phẩm”; từ quảng bá ngắn hạn sang kết nối có cam kết; từ từng hộ riêng lẻ sang cụm liên kết chuỗi cung ứng; đồng thời đo hiệu quả bằng kết quả thị trường và lợi ích cộng đồng. Đây là bước chuyển rất đáng chú ý, bởi nếu mục tiêu cuối cùng là sinh kế bền vững, thì hỗ trợ phải giúp cộng đồng có khả năng tự đứng trong chuỗi giá trị, chứ không chỉ có thêm một lần xuất hiện tại một sự kiện.

Một trong những dư địa lớn chính là kết nối sản phẩm với du lịch, ông Hoàng Hoa Quân - Phó Trưởng phòng Lữ hành, Cục Du lịch quốc gia Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho rằng doanh nghiệp du lịch có trách nhiệm không chỉ tham gia phân phối đặc sản, mà còn làm cầu nối để khách du lịch tiếp cận sản vật dưới góc độ câu chuyện sản phẩm. Từ đó, du lịch trở thành một kênh “xuất khẩu tại chỗ”. Khách đến với cộng đồng, trải nghiệm văn hóa, sử dụng sản phẩm và mang câu chuyện về nơi mình sống.

Cần thay đổi tư duy từ “làm ra sản phẩm rồi mới tìm thị trường” sang “phát triển sản phẩm theo nhu cầu thị trường nhưng trên nền tảng giá trị văn hóa của cộng đồng”.

Ngoài ra, cần định hướng hình thành những điểm “hub” phân phối sản phẩm OCOP tại các địa bàn du lịch trọng điểm, điểm dừng chân, nhà ga, bến xe, resort, khách sạn… để du khách thuận tiện tiếp cận và mua sản phẩm. Mục tiêu là tăng liên kết giữa du lịch, văn hóa và sản phẩm OCOP, đồng thời thúc đẩy tiêu thụ và bảo tồn tri thức bản địa. Mỗi địa phương lựa chọn những sản phẩm OCOP đặc trưng làm “Đại sứ du lịch”, kết nối doanh nghiệp du lịch với chủ thể OCOP để hỗ trợ quá trình sản xuất, kể chuyện sản phẩm và tiêu thụ.

Những cách làm ấy, nếu được tổ chức thực chất, có thể mở thêm một không gian để văn hóa hiện diện trong đời sống kinh tế. Mục tiêu cuối cùng không phải tạo ra thật nhiều sản phẩm, cũng không phải biến mọi giá trị văn hóa thành hàng hóa. Mục tiêu là tạo ra một vòng phát triển trong đó các giá trị hỗ trợ lẫn nhau. Trong vòng tròn đó, cộng đồng phải đứng ở vị trí trung tâm.

Nếu người dân có thu nhập từ nghề truyền thống, họ có thêm lý do để tiếp tục nghề. Nếu thế hệ trẻ nhìn thấy cơ hội kinh tế từ tri thức của cộng đồng, việc trao truyền sẽ có thêm động lực. Nếu sản phẩm mang câu chuyện văn hóa được người tiêu dùng trân trọng, bản sắc sẽ không chỉ tồn tại trong không gian lễ hội mà có thể bước vào đời sống hiện đại. Và nếu phần giá trị gia tăng được giữ lại tương xứng tại địa phương, phát triển kinh tế sẽ không làm cộng đồng xa rời văn hóa của chính mình.

Đó chính là tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW mở ra một cách nhìn mới, văn hóa là nguồn lực nội sinh và động lực phát triển. Một nền văn hóa mạnh không chỉ được đo bằng số lượng di sản được bảo tồn, sức sống của văn hóa còn nằm ở khả năng hiện diện trong đời sống hôm nay, được thế hệ trẻ tiếp nhận, được cộng đồng thực hành và được xã hội trân trọng. Khi đó, phát triển văn hóa không còn là câu chuyện đặt bên cạnh phát triển kinh tế. Văn hóa trở thành một phần của động lực phát triển và cộng đồng không chỉ là nơi lưu giữ những giá trị của quá khứ, mà trở thành chủ thể kiến tạo những giá trị mới cho tương lai.

AN NGUYÊN-VIỆT HÀ

TIN LIÊN QUAN






















Home Icon VỀ TRANG CHỦ