🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Bài 2: Từ đặc sản vùng cao đến thị trường bền vững

5 giờ trước
Có sản phẩm tốt chưa chắc có thị trường, để đặc sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trở thành lựa chọn thường xuyên của người tiêu dùng, cần chuyển từ xúc tiến đơn lẻ sang phát triển chuỗi giá trị trong đó văn hóa trở thành lợi thế cạnh tranh và cộng đồng là chủ thể hưởng lợi.

Để đặc sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trở thành lựa chọn thường xuyên của người tiêu dùng, cần chuyển từ xúc tiến đơn lẻ sang phát triển chuỗi giá trị. (Ảnh: AN NGUYÊN)

Từ bản làng đến đô thị, nhiều sản phẩm của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã có bước tiến đáng kể. Trà Shan tuyết cổ thụ, gạo Séng Cù, mật ong Bắc Hà, miến dong, dược liệu, thổ cẩm và nhiều sản phẩm thủ công đã tiếp cận các đô thị lớn, khách du lịch và một số thị trường ngoài nước. Nhưng thực tế hiện diện trên thị trường mới chỉ là điểm khởi đầu, làm thế nào để những sản phẩm ấy không chỉ xuất hiện tại một hội chợ, một tuần hàng hay một chương trình xúc tiến, mà trở thành lựa chọn thường xuyên của người tiêu dùng là một bài toán khó.

Đưa đặc sản từ bản làng đến đô thị

Để làm được điều này, tại tọa đàm “Hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW: Khơi dậy nguồn lực văn hóa, nâng tầm đặc sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số” do Tạp chí Công thương tổ chức các chuyên gia cho rằng cần một bước chuyển căn bản: từ tư duy “đưa sản phẩm đi giới thiệu” sang xây dựng năng lực để sản phẩm cạnh tranh và bán được lâu dài. Một sản phẩm đặc trưng vùng dân tộc thiểu số có thể mang trong mình những giá trị mà hàng hóa đại trà khó có được: nguyên liệu bản địa, tri thức sản xuất, câu chuyện cộng đồng, nghề truyền thống và dấu ấn văn hóa. Đó là những lợi thế khác biệt. Nhưng thị trường không chỉ đánh giá sản phẩm bằng câu chuyện. Thị trường đòi hỏi chất lượng ổn định, quy cách rõ ràng, khả năng giao hàng, truy xuất nguồn gốc, hồ sơ pháp lý, năng lực quản lý đơn hàng và nhiều yêu cầu khác.

Từ bản làng đến đô thị, nhiều sản phẩm của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã có bước tiến đáng kể.

Theo ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Bộ Công thương, đây chính là khoảng cách giữa “có sản phẩm tốt” và “có năng lực thị trường”. Khoảng cách ấy thể hiện ở nhiều khâu. Sản xuất tại nhiều địa bàn vẫn phân tán, quy mô nhỏ, phụ thuộc mùa vụ và thời tiết. Trong khi đó, hệ thống phân phối hiện đại cần nguồn cung ổn định, quy cách rõ ràng và thời hạn giao hàng có thể dự báo. Nói cách khác, sản phẩm không thể chỉ “có khi có”, mà phải bảo đảm khả năng cung ứng.

"Điều đó đặt ra yêu cầu chuẩn hóa. Nhưng chuẩn hóa không có nghĩa là công nghiệp hóa bằng mọi giá, làm mất đi những yếu tố tạo nên bản sắc. Vấn đề là phải xác định rõ những phần có thể chuẩn hóa, đồng thời bảo tồn những giá trị làm nên sự khác biệt của sản phẩm. Đó là bài toán không đơn giản, nhưng cũng là điều kiện để sản phẩm bước vào những kênh phân phối có yêu cầu cao hơn", ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn nhấn mạnh.

Một thời gian dài, xúc tiến sản phẩm thường được hình dung qua các hội chợ, tuần hàng và hoạt động giới thiệu sản phẩm. Những hoạt động này cần thiết bởi tạo cơ hội để sản phẩm tiếp cận người tiêu dùng và doanh nghiệp. Nhưng nếu dừng ở đó, sản phẩm mới chỉ được “đưa đi giới thiệu”. Tư duy mới phải là xây dựng năng lực thị trường. Điều này đòi hỏi hỗ trợ thị trường bắt đầu từ việc phân nhóm sản phẩm và phân nhóm thị trường, từ đó có lộ trình phù hợp. Với thực phẩm, dược liệu, ưu tiên là chất lượng, an toàn và bảo quản. Với thủ công, thổ cẩm, cần chú trọng thiết kế, câu chuyện văn hóa, chỉ dẫn địa lý, bản quyền và trải nghiệm. Với sản phẩm du lịch, cần gắn sản phẩm với điểm đến và dịch vụ.

Một sản phẩm đặc trưng vùng dân tộc thiểu số có thể mang trong mình những giá trị mà hàng hóa đại trà khó có được: nguyên liệu bản địa, tri thức sản xuất, câu chuyện cộng đồng, nghề truyền thống và dấu ấn văn hóa.

Ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn cho rằng, cách thức kết nối cung cầu cũng cần thay đổi. Không chỉ tổ chức một cuộc gặp rồi kết thúc, mà phải hướng tới lựa chọn nhà cung cấp, thử nghiệm đơn hàng, tư vấn hoàn thiện sản phẩm và theo dõi tỷ lệ tái đặt hàng. Khi chủ thể sản xuất chưa đáp ứng ngay yêu cầu của doanh nghiệp, cần có lộ trình từng bước để hoàn thiện. Đây chính là sự khác biệt giữa xúc tiến thương mại và phát triển thị trường. Một bên tạo cơ hội gặp gỡ. Một bên tạo khả năng bán hàng bền vững.

“Hộ chiếu” cho sản phẩm

Trong quá trình đưa sản phẩm từ bản làng vào hệ thống phân phối, dữ liệu ngày càng trở thành một phần của giá trị. Truy xuất nguồn gốc vì vậy không nên chỉ được hiểu là một yêu cầu quản lý. Theo ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, cần nâng truy xuất nguồn gốc thành “hộ chiếu của sản phẩm”, trong đó dữ liệu kể được hành trình từ vùng nguyên liệu tới điểm bán, kết nối với tiêu chuẩn, chứng nhận và phản hồi của người tiêu dùng.

Cùng với đó, câu chuyện thị trường không thể tách rời câu chuyện văn hóa. Nếu chỉ chạy theo yêu cầu của thị trường mà làm mất đi những yếu tố tạo nên bản sắc, sản phẩm sẽ đánh mất chính lợi thế khác biệt của mình. Ngược lại, nếu giữ nguyên mọi thứ mà không điều chỉnh theo nhu cầu người tiêu dùng, sản phẩm có thể không đủ khả năng tồn tại về kinh tế. Bài toán vì thế là chuẩn hóa để cạnh tranh nhưng không làm mất bản sắc.

Trong quá trình đưa sản phẩm từ bản làng vào hệ thống phân phối, dữ liệu ngày càng trở thành một phần của giá trị.

Theo bà Nguyễn Thị Hồng Huệ, Phó Vụ trưởng Chính sách, Bộ Dân tộc và tôn giáo có bốn nguyên tắc cần được giữ vững: cộng đồng phải là chủ thể; phát triển nhưng không làm mất bản sắc; bảo đảm cộng đồng được hưởng lợi và chuyển từ hỗ trợ đơn lẻ sang phát triển chuỗi giá trị. Cách tiếp cận này đồng thời giúp nhìn rõ ba nghịch lý: có văn hóa nhưng chưa có sản phẩm; có sản phẩm nhưng chưa có thị trường; có thị trường nhưng cộng đồng chưa hưởng lợi tương xứng. Muốn giải quyết những nghịch lý đó, không thể chỉ nhìn sản phẩm như một món hàng. Đằng sau mỗi sản phẩm là người dân, tri thức, nguyên liệu, nghề truyền thống và một cộng đồng. Khi những yếu tố ấy được tổ chức thành một chuỗi giá trị, giá trị văn hóa mới có cơ hội chuyển hóa thành giá trị kinh tế mà không tách rời chủ thể sáng tạo.

Một thay đổi quan trọng được đặt ra là chuyển từ từng hộ riêng lẻ sang các cụm liên kết trong chuỗi cung ứng. Theo định hướng được nêu tại tọa đàm, cần mở rộng hệ sinh thái liên kết từ người sản xuất tới doanh nghiệp, logistics và các chủ thể liên quan; xây dựng điểm gom, lịch đặt hàng, quy cách đóng gói và kế hoạch mùa vụ để giảm chi phí logistics nhưng vẫn giữ dấu ấn của từng cộng đồng.

Cần xây dựng điểm gom, lịch đặt hàng, quy cách đóng gói và kế hoạch mùa vụ để giảm chi phí logistics nhưng vẫn giữ dấu ấn của từng cộng đồng.

Đây là yêu cầu xuất phát từ chính đặc thù của vùng sản xuất miền núi: khoảng cách xa, lô hàng nhỏ, thiếu điểm gom, bảo quản và trung chuyển phù hợp. Nếu toàn bộ chi phí ấy được cộng dồn vào giá bán, sản phẩm có thể trở nên kém cạnh tranh, trong khi phần giá trị thực sự giữ lại cho người sản xuất vẫn chưa tương xứng. Sản phẩm văn hóa vì thế không thể phát triển bằng một chủ thể đơn độc. Người dân có tri thức và nguyên liệu. Hợp tác xã có khả năng tổ chức sản xuất. Doanh nghiệp có năng lực thị trường. Đơn vị logistics đưa sản phẩm đi xa. Hệ thống phân phối kết nối với người tiêu dùng. Nhà nước tạo hành lang, chính sách và hỗ trợ thu hẹp khoảng cách tiếp cận thị trường. Mỗi mắt xích chỉ thực sự có ý nghĩa khi được đặt trong một chuỗi thống nhất.

Điều quan trọng cuối cùng không chỉ là sản phẩm bán được bao nhiêu, mà là bao nhiêu giá trị được tạo ra và ở lại với nơi sản xuất. Nếu chỉ đo bằng số hội nghị, số lần trưng bày hay số sản phẩm tham gia, rất khó biết giá trị thực sự đã được tạo ra đến đâu. Cần quan tâm tới doanh số, tỷ lệ tái đặt hàng, thu nhập giữ lại tại địa phương và việc làm bền vững; đồng thời chú ý phát huy vai trò của phụ nữ và thanh niên.

Nghị quyết 80-NQ/TW đặt ra yêu cầu đưa văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh và động lực phát triển.

Một sản phẩm có thể bán được rất nhiều nhưng nếu phần giá trị giữ lại tại nơi sản xuất thấp, cộng đồng vẫn chưa thực sự trở thành người hưởng lợi. Một sản phẩm có thể nổi tiếng nhưng nếu tri thức và thiết kế truyền thống không được ghi nhận quyền của cộng đồng, giá trị văn hóa vẫn có nguy cơ bị tách khỏi chủ thể sáng tạo.

Bởi vậy, đồng bào không chỉ cung cấp nguyên liệu hay hình ảnh cho câu chuyện thương hiệu. Cộng đồng phải tham gia quyết định cách sử dụng các yếu tố văn hóa, được ghi nhận quyền đối với tri thức và thiết kế truyền thống, được nâng cao năng lực kinh doanh và hưởng lợi công bằng từ giá trị gia tăng. Đó cũng là yêu cầu để quá trình phát triển thị trường không trở thành quá trình thương mại hóa đơn thuần, mà thực sự tạo thêm sinh kế và động lực bảo tồn văn hóa.

Nghị quyết 80-NQ/TW đặt ra yêu cầu đưa văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh và động lực phát triển. Với sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số, điều đó chỉ có thể thành hiện thực nếu thị trường được coi là một phần của quá trình bảo tồn và phát huy văn hóa. Không phải làm ra sản phẩm rồi mới đi tìm người mua, mà phải phát triển sản phẩm theo nhu cầu thị trường, trên nền tảng giá trị văn hóa của cộng đồng. Không phải đưa sản phẩm đi hội chợ rồi kết thúc, mà phải tạo ra đơn hàng, tái đặt hàng và hệ thống phân phối ổn định. Không phải chỉ gắn một mã QR, mà phải xây dựng “hộ chiếu” cho sản phẩm. Và không thể chỉ hỏi sản phẩm bán được bao nhiêu. Cần hỏi bao nhiêu giá trị đã ở lại với cộng đồng. Đó mới là thước đo quan trọng của quá trình đưa đặc sản từ “quầy giới thiệu” vào “giỏ hàng” của thị trường; đồng thời đưa văn hóa từ một giá trị được ngưỡng vọng trở thành nguồn lực sống động cho phát triển.

AN NGUYÊN

TIN LIÊN QUAN















Home Icon VỀ TRANG CHỦ