🔍
Chuyên mục: Nghệ thuật

Bắc Ninh: Bài học bảo tồn, giữ hồn di sản văn hóa phi vật thể trong đời sống cộng đồng

1 giờ trước
Di sản văn hóa phi vật thể là phần hồn của mỗi vùng đất. Đó không chỉ là những câu hát, điệu múa, lễ hội, tín ngưỡng hay nghề thủ công truyền thống được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mà còn là ký ức cộng đồng, là tri thức dân gian, là cách con người ứng xử với thiên nhiên, xã hội và cội nguồn văn hóa của mình. Nếu di sản vật thể hiện hữu qua đình, chùa, đền, miếu hay các hiện vật lịch sử thì di sản văn hóa phi vật thể lại tồn tại trong chính đời sống thường nhật, trong lời ăn tiếng nói, trong những sinh hoạt cộng đồng và trong tâm thức của mỗi người dân.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, đô thị hóa và sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường, việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể đang đứng trước nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống được quan tâm nghiên cứu, tôn vinh và quảng bá rộng rãi; song đồng thời cũng xuất hiện nguy cơ mai một, biến đổi hoặc thương mại hóa nếu thiếu những giải pháp phù hợp. Từ thực tiễn bảo tồn di sản ở Bắc Ninh – vùng đất giàu truyền thống văn hiến của xứ Kinh Bắc – có thể rút ra nhiều bài học kinh nghiệm có giá trị cho công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể trong giai đoạn hiện nay.

Lễ hội Vật cầu nước làng Vân được công nhận là di sản Văn hóa phi vật thể năm 2022

Bắc Ninh từ lâu được biết đến là một trong những cái nôi văn hóa của dân tộc Việt Nam. Nơi đây không chỉ nổi tiếng với những làn điệu Quan họ ngọt ngào mà còn là vùng đất của lễ hội, làng nghề, tín ngưỡng dân gian và nhiều loại hình diễn xướng truyền thống đặc sắc. Sau quá trình hợp nhất địa giới hành chính giữa Bắc Ninh và Bắc Giang, không gian văn hóa của tỉnh càng trở nên phong phú và đa dạng hơn. Bên cạnh những giá trị tiêu biểu của vùng đồng bằng Kinh Bắc như Dân ca Quan họ, Ca trù, nghề làm tranh dân gian Đông Hồ hay hệ thống lễ hội truyền thống, Bắc Ninh ngày nay còn sở hữu nhiều di sản văn hóa của cộng đồng các dân tộc thiểu số ở khu vực trung du và miền núi.
Nổi bật trong số đó là Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam – di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại được UNESCO ghi danh năm 2019. Then không đơn thuần là một hình thức diễn xướng dân gian mà còn là không gian văn hóa chứa đựng thế giới quan, nhân sinh quan, tín ngưỡng và tri thức dân gian của cộng đồng người Tày, Nùng. Trong tiếng đàn tính ngân vang và những lời hát Then mộc mạc là câu chuyện về con người, về thiên nhiên, về khát vọng hướng tới cuộc sống bình yên, no đủ. Cùng với Then còn có dân ca Cao Lan, dân ca Sán Chí, hát Soọng cô của người Sán Dìu và nhiều tập quán văn hóa truyền thống khác. Những giá trị ấy đã góp phần tạo nên diện mạo văn hóa đa sắc màu cho Bắc Ninh hôm nay.

Liên hoan hát Then - đàn Tính được tổ chức thường niên tại Bắc Ninh

Sự phong phú của hệ thống di sản không chỉ là niềm tự hào mà còn đặt ra yêu cầu lớn đối với công tác bảo tồn. Những năm qua, Bắc Ninh đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ từ kiểm kê, lập hồ sơ khoa học, số hóa dữ liệu đến hỗ trợ nghệ nhân, truyền dạy trong cộng đồng và phát huy giá trị di sản gắn với phát triển du lịch, giáo dục và đời sống xã hội. Nhiều loại hình di sản được phục hồi, duy trì và từng bước lan tỏa trong đời sống đương đại.
Từ thực tiễn ấy, bài học đầu tiên và cũng là bài học quan trọng nhất chính là phải đặt cộng đồng vào vị trí trung tâm của công tác bảo tồn. Di sản văn hóa phi vật thể khác với các loại hình di sản vật thể ở chỗ nó chỉ thực sự tồn tại khi có người thực hành. Một làn điệu Quan họ sẽ không còn là Quan họ nếu không còn những liền anh, liền chị cất lên câu hát. Một nghi lễ Then sẽ mất đi ý nghĩa nếu không còn người thực hành và cộng đồng tin tưởng, gìn giữ. Một nghề thủ công truyền thống sẽ dần biến mất nếu không còn người nối nghề.
Thực tiễn ở các làng Quan họ gốc cho thấy sức sống của di sản bắt nguồn từ chính cộng đồng. Những nghệ nhân cao tuổi vẫn đều đặn truyền dạy cho lớp trẻ từng làn điệu cổ, từng phong tục kết bạn, mời trầu, đối đáp. Điều họ trao lại không chỉ là lời ca tiếng hát mà còn là tinh thần ứng xử, là nếp sống văn hóa của người Kinh Bắc. Chính môi trường cộng đồng ấy đã tạo nên sức sống bền bỉ cho Quan họ suốt hàng trăm năm qua. Điều tương tự cũng diễn ra trong đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số. Những làn điệu Then, dân ca Cao Lan hay Soọng cô vẫn được lưu giữ bởi các nghệ nhân và cộng đồng địa phương. Nhiều người cao tuổi vẫn lặng lẽ truyền dạy cho con cháu bằng tất cả tâm huyết của mình. Họ hiểu rằng nếu thế hệ trẻ không tiếp nhận thì di sản sẽ đứng trước nguy cơ đứt gãy. Vì vậy, bảo tồn di sản trước hết phải là bảo tồn con người – những chủ thể đang nắm giữ và thực hành di sản.

Buổi tổng kết của liên hoan "Em yêu làn điệu dân ca Quan họ" lần thứ 15 của Thị xã Việt Yên, nay là Phường Việt Yên.

Bài học thứ hai là bảo tồn phải gắn liền với truyền dạy. Trong nhiều năm qua, Bắc Ninh đã chú trọng đưa di sản vào trường học, tổ chức các lớp truyền dạy cộng đồng, xây dựng các câu lạc bộ dân ca, câu lạc bộ văn hóa dân gian và duy trì các không gian sinh hoạt văn hóa truyền thống. Đây là hướng đi có ý nghĩa lâu dài bởi thế hệ trẻ chính là người quyết định tương lai của di sản. Việc học sinh được tiếp xúc với Quan họ, Ca trù, tranh Đông Hồ hay các loại hình dân ca dân tộc thiểu số ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường không chỉ giúp các em hiểu biết thêm về văn hóa quê hương mà còn góp phần hình thành tình yêu và ý thức trách nhiệm đối với di sản. Thực tế cho thấy, những trải nghiệm trực tiếp như nghe nghệ nhân biểu diễn, tham gia lớp học dân ca, thực hành in tranh Đông Hồ hay tham quan làng nghề luôn tạo được ấn tượng sâu sắc hơn nhiều so với những bài học lý thuyết đơn thuần.
Bài học thứ ba là phải kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và phát triển. Trong điều kiện hiện nay, di sản không thể tách rời khỏi đời sống kinh tế - xã hội. Ngược lại, nếu biết khai thác hợp lý, di sản có thể trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa và sinh kế cộng đồng. Những năm gần đây, nhiều sản phẩm du lịch văn hóa dựa trên nền tảng di sản đã được hình thành ở Bắc Ninh. Du khách có thể nghe Quan họ trên thuyền, trải nghiệm làm tranh Đông Hồ, tham quan làng gốm Phù Lãng, gồm làng Ngòi khám phá các lễ hội truyền thống hay tìm hiểu đời sống văn hóa của cộng đồng các dân tộc thiểu số. Những hoạt động ấy không chỉ góp phần quảng bá hình ảnh địa phương mà còn tạo thêm nguồn thu nhập cho người dân, qua đó khuyến khích cộng đồng tiếp tục gìn giữ các giá trị truyền thống.
Tuy nhiên, phát triển không đồng nghĩa với thương mại hóa. Đây là ranh giới rất mong manh mà công tác bảo tồn phải luôn tỉnh táo nhận diện. Một số lễ hội hiện nay có xu hướng phô trương hình thức; một số hoạt động diễn xướng bị sân khấu hóa quá mức để phục vụ du lịch; một số nghề truyền thống đứng trước áp lực sản xuất hàng loạt, làm giảm tính nguyên gốc của sản phẩm. Nếu không có định hướng phù hợp, những yếu tố làm nên bản sắc của di sản có thể dần bị phai nhạt. Bởi vậy, việc khai thác di sản cần đặt trên nguyên tắc tôn trọng giá trị gốc, bảo đảm vai trò chủ thể của cộng đồng và hướng tới phát triển bền vững. Di sản phải được xem là tài sản văn hóa trước khi trở thành tài sản kinh tế.

Các liền anh, liền chị xuất hiện nhiều trong các cuộc thi, liên hoan văn nghệ, từ các chương trình hội làng đến sự kiện văn hóa lớn của tỉnh...

Bài học thứ tư là vai trò định hướng của Nhà nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong nhiều năm qua, Bắc Ninh là một trong những địa phương đi đầu cả nước trong việc ban hành cơ chế, chính sách bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể. Hàng trăm nghệ nhân được tôn vinh; nhiều chương trình hỗ trợ truyền dạy, bảo tồn làng nghề, phục dựng lễ hội và quảng bá di sản được triển khai. Đây là nền tảng quan trọng giúp công tác bảo tồn đạt được những kết quả tích cực.
Tuy nhiên, Nhà nước không thể làm thay cộng đồng. Chính sách chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi khơi dậy được sự tham gia chủ động của người dân. Một câu lạc bộ dân ca chỉ có thể tồn tại lâu dài khi các thành viên tham gia bằng niềm yêu thích thực sự. Một lễ hội chỉ giữ được giá trị khi cộng đồng hiểu và tự nguyện gìn giữ những ý nghĩa văn hóa tốt đẹp của nó. Sự kết hợp hài hòa giữa vai trò quản lý của Nhà nước và vai trò chủ thể của cộng đồng chính là chìa khóa cho sự thành công của công tác bảo tồn.
Bài học thứ năm là cần coi trọng nghệ nhân và lực lượng kế cận. Nghệ nhân chính là những “báu vật nhân văn sống”, là người lưu giữ những tri thức, kỹ năng và ký ức văn hóa mà không sách vở nào có thể thay thế hoàn toàn. Một nghệ nhân Quan họ không chỉ thuộc nhiều bài bản cổ mà còn hiểu sâu sắc phong tục, lề lối Quan họ. Một nghệ nhân Then không chỉ biết hát, biết đàn mà còn nắm giữ những tri thức tín ngưỡng, dân gian được tích lũy qua nhiều thế hệ. Trong bối cảnh nhiều nghệ nhân đã cao tuổi, việc đào tạo lớp kế cận trở thành nhiệm vụ cấp thiết. Nếu không có những người trẻ tiếp nối, nhiều loại hình di sản có nguy cơ bị đứt gãy. Vì vậy, việc tạo điều kiện để nghệ nhân truyền dạy, hỗ trợ xây dựng đội ngũ kế cận và khuyến khích thế hệ trẻ tham gia thực hành di sản cần được xem là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác bảo tồn.
Một bài học khác cũng rất đáng chú ý là vai trò của giáo dục và truyền thông. Trong thời đại số, di sản muốn đến được với công chúng, đặc biệt là giới trẻ, cần có những phương thức tiếp cận mới. Việc số hóa dữ liệu, xây dựng cơ sở dữ liệu di sản, sản xuất phim tài liệu, video ngắn, ứng dụng công nghệ số trong giới thiệu và quảng bá di sản đang mở ra nhiều cơ hội mới. Tuy nhiên, công nghệ chỉ là công cụ hỗ trợ. Không gian số có thể giúp lưu giữ và lan tỏa thông tin về di sản nhưng không thể thay thế môi trường thực hành di sản trong cộng đồng. Một video Quan họ không thể thay thế một canh hát Quan họ truyền thống. Một bộ ảnh về lễ hội không thể thay thế cảm xúc khi trực tiếp tham gia lễ hội. Vì vậy, số hóa cần đi cùng với việc duy trì các không gian văn hóa sống, nơi di sản tiếp tục được thực hành và trao truyền.

Không gian trưng bày tranh Đông Hồ tại Nha Trang tháng 2 năm 20226.

Nhìn từ thực tiễn Bắc Ninh có thể thấy, bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể là một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự tham gia của nhiều chủ thể: Nhà nước, cộng đồng, nghệ nhân, nhà nghiên cứu, doanh nghiệp và các cơ sở giáo dục. Mỗi chủ thể đều có vai trò riêng nhưng đều hướng tới mục tiêu chung là giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa đã được bồi đắp qua nhiều thế hệ. Trong bối cảnh Hội nhập và phát triển hiện nay, di sản văn hóa phi vật thể không chỉ là ký ức của quá khứ mà còn là nguồn lực cho tương lai. Những câu hát Quan họ, tiếng đàn tính của người Tày, Nùng, những bức tranh Đông Hồ, những lễ hội truyền thống hay những làn điệu dân ca dân tộc thiểu số không chỉ làm nên bản sắc của Bắc Ninh mà còn góp phần khẳng định sức sống của văn hóa Việt Nam trong dòng chảy hiện đại.
Giữ gìn di sản hôm nay không phải để lưu giữ quá khứ một cách bất động, mà để những giá trị văn hóa ấy tiếp tục được nuôi dưỡng, sáng tạo và lan tỏa trong đời sống đương đại. Khi cộng đồng còn yêu quý di sản, khi nghệ nhân còn người kế tục và khi mỗi thế hệ đều nhận thức được trách nhiệm của mình đối với văn hóa dân tộc, di sản văn hóa phi vật thể sẽ tiếp tục sống động, trở thành nguồn sức mạnh nội sinh cho sự phát triển bền vững của địa phương và đất nước./.

Nguyễn Thị Thanh Huyền

TIN LIÊN QUAN













Home Icon VỀ TRANG CHỦ