3 lợi thế, 4 nút thắt
Việt Nam là nước đứng thứ 2 thế giới về xuất khẩu cà phê nói chung và số 1 thế giới về Robusta nhưng chủ yếu vẫn là xuất khẩu thô. Muốn bước sang giai đoạn phát triển cao hơn, chúng ta không thể chỉ tiếp tục dựa vào xuất khẩu thô. Chế biến sâu là con đường để nâng giá trị xuất khẩu, giữ lại lợi nhuận nhiều hơn, giảm phụ thuộc vào chu kỳ giá nguyên liệu, tạo động lực cho vùng nguyên liệu và mở đường cho kinh tế tuần hoàn.
Vì sao chế biến sâu là hướng đi tất yếu?
Thứ nhất, chế biến sâu là con đường trực tiếp nhất để giảm phụ thuộc vào chu kỳ giá của cà phê nhân xanh. Khi doanh nghiệp (DN) chỉ dựa vào xuất thô, hiệu quả kinh doanh bị kéo theo giá nguyên liệu. Nhưng khi có thêm rang xay, hòa tan, chiết xuất hay nguyên liệu đồ uống, DN sẽ có cấu trúc doanh thu đa tầng hơn, từ đó tăng sức chống chịu trước thị trường.
Thứ hai, chế biến sâu tạo động lực ngược trở lại cho vùng nguyên liệu. Không có rang xay tốt, hòa tan tốt hay chiết xuất tốt nếu nguyên liệu không đồng đều, không truy xuất được và không đủ chất lượng. Vì vậy, DN càng quyết tâm đi sâu thì càng phải đầu tư trở lại cho vùng trồng, sơ chế, logistics và dữ liệu.
Thứ ba, chế biến sâu mở đường cho kinh tế tuần hoàn trong ngành cà phê. Một chuỗi cà phê hiện đại không chỉ khai thác giá trị của hạt, mà còn nhìn thấy giá trị của vỏ quả, sinh khối và các dòng phụ phẩm khác. Đây là dư địa rất lớn mà Việt Nam chưa khai thác hết.
Cần nhận diện những nút thắt khiến DN khó đi vào chế biến sâu để có hướng tháo gỡ. Nút thắt đầu tiên là nguyên liệu chưa đủ đồng đều. Không thể có chế biến sâu bền vững nếu vùng nguyên liệu không được chuẩn hóa từ giống, chăm sóc, thu hoạch đến sơ chế. Thứ hai là chi phí đầu tư lớn: Nhà máy chế biến sâu đòi hỏi vốn cho thiết bị, môi trường, năng lượng, phòng kiểm nghiệm và hệ dữ liệu. Thứ ba là tiêu chuẩn và pháp lý cho các dòng sản phẩm mới như cascara (dùng nguyên liệu vỏ cà phê), chiết xuất, nguyên liệu pha chế vẫn chưa thực sự đầy đủ. Thứ tư là áp lực tuân thủ quốc tế, đặc biệt ở truy xuất vùng trồng và dữ liệu chuỗi lưu chuyển.
Bên cạnh đó, chi phí vốn lưu động cũng là rào cản lớn. Cơ chế thuế giá trị gia tăng theo hướng thu trước - hoàn sau trong nhiều thời điểm tạo áp lực dòng tiền rất mạnh, khiến DN ngại đầu tư vào mô hình chế biến sâu, nơi cần vốn trung và dài hạn lớn hơn nhiều so với thương mại nguyên liệu.
Tuy có nhiều khó khăn nhưng thị trường cà phê chế biến đang rộng mở. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), giá trị thị trường cà phê toàn cầu được ước đạt 176,6 tỉ USD trong năm 2025; trong đó các phân khúc rang xay, hòa tan và cà phê pha sẵn tiếp tục mở rộng nhanh.
Như vậy, nếu Việt Nam tiếp tục xuất thô là chủ yếu, chúng ta sẽ tiếp tục đứng ở phần đầu chuỗi về khối lượng, trong khi phần dày nhất của giá trị vẫn nằm ở các khâu chế biến sâu và tiêu dùng cuối.
Nguyễn Thành Tài, Ủy viên Ban Chấp hành - Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam
(Dẫn nguồn NLĐO)
2 giờ trước
2 giờ trước
31 phút trước
23 phút trước
3 phút trước
3 phút trước
4 phút trước
7 phút trước
11 phút trước
12 phút trước
14 phút trước
17 phút trước