11 trường hợp xem xét miễn nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý
Căn cứ khoản 1, Điều 53, Nghị định 170/2025/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 23, Nghị định 300/2026/NĐ-CP, công chức lãnh đạo, quản lý có thể được xem xét miễn nhiệm khi thuộc một trong các trường hợp được pháp luật quy định.
11 trường hợp xem xét miễn nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý
Theo quy định mới, có 11 nhóm trường hợp được xem xét miễn nhiệm. Đầu tiên là công chức bị kỷ luật cảnh cáo và bị cấp có thẩm quyền đánh giá năng lực hạn chế, uy tín giảm sút, không thể tiếp tục đảm nhiệm chức vụ được giao. Thứ hai, công chức bị kỷ luật khiển trách liên quan đến chức trách, nhiệm vụ được giao từ 2 lần trở lên trong một thời hạn bổ nhiệm.
Thứ ba, công chức có trên 2/3 số phiếu tín nhiệm thấp tại kỳ lấy phiếu theo quy định. Thứ tư, công chức có 2 năm liên tiếp bị xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ liên quan đến việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.

Từ 1-8-2026, quy định mới nêu 11 trường hợp xem xét miễn nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý và quy trình xem xét, quyết định miễn nhiệm. Ảnh minh họa.
Thứ năm, công chức bị cơ quan có thẩm quyền kết luận suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vi phạm những điều đảng viên không được làm hoặc vi phạm trách nhiệm nêu gương, gây bức xúc trong dư luận, làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của bản thân và cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi công tác.
Thứ sáu là công chức bị cơ quan có thẩm quyền kết luận vi phạm tiêu chuẩn chính trị theo quy định về bảo vệ chính trị nội bộ Đảng đến mức phải miễn nhiệm. Thứ bảy, người đứng đầu để cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc quyền quản lý, phụ trách trực tiếp hoặc cấp dưới trực tiếp xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực gây hậu quả rất nghiêm trọng theo kết luận của cơ quan có thẩm quyền nhưng chưa đến mức phải xem xét, xử lý kỷ luật theo quy định.
Thứ tám, người đứng đầu để cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc quyền quản lý, phụ trách trực tiếp xảy ra mâu thuẫn, mất đoàn kết nghiêm trọng theo kết luận của cơ quan có thẩm quyền. Thứ chín, công chức thuộc trường hợp được cơ quan có thẩm quyền kiến nghị miễn nhiệm. Thứ mười, công chức thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 52 Nghị định 170/2025/NĐ-CP nhưng không tự nguyện từ chức. Cuối cùng là các trường hợp khác theo quy định của Đảng hoặc pháp luật.
Như vậy, phạm vi xem xét miễn nhiệm không chỉ tập trung vào hành vi vi phạm của cá nhân mà còn gắn với năng lực thực thi nhiệm vụ, mức độ tín nhiệm, kết quả công tác và trách nhiệm của người đứng đầu đối với cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý.
Trách nhiệm người đứng đầu được đặt ra rõ hơn
Đáng chú ý, quy định mới dành sự quan tâm tới trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc tình trạng mâu thuẫn, mất đoàn kết nghiêm trọng trong cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý.
Theo luật sư Nguyễn Trung Tiệp, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, việc xác định trách nhiệm của người đứng đầu không đồng nghĩa với việc mọi sai phạm xảy ra trong đơn vị đều mặc nhiên dẫn đến miễn nhiệm. Căn cứ quan trọng vẫn là kết luận của cơ quan có thẩm quyền về tính chất, mức độ, hậu quả của vụ việc cũng như trách nhiệm quản lý, điều hành của người đứng đầu.
Luật sư Nguyễn Trung Tiệp cho rằng, cách quy định này nhằm tăng cường cơ chế trách nhiệm trong công vụ, đặc biệt đối với những vị trí lãnh đạo, quản lý. Người đứng đầu không chỉ chịu trách nhiệm về kết quả trực tiếp do mình thực hiện mà còn phải chịu trách nhiệm quản lý trong phạm vi được giao, nhất là khi để xảy ra những vấn đề nghiêm trọng kéo dài hoặc gây hậu quả lớn.
Đồng thời, quy định về miễn nhiệm cần được phân biệt với xử lý kỷ luật. Miễn nhiệm là một cơ chế về công tác cán bộ, được xem xét trên nhiều yếu tố như năng lực, uy tín, kết quả thực hiện nhiệm vụ và trách nhiệm quản lý, trong khi xử lý kỷ luật được thực hiện trên cơ sở hành vi vi phạm và quy định tương ứng của pháp luật.
Quy trình xem xét miễn nhiệm được quy định theo thời hạn cụ thể
Khi có đủ căn cứ miễn nhiệm, trong thời hạn 10 ngày làm việc, người đứng đầu cơ quan sử dụng công chức hoặc cơ quan, bộ phận tham mưu về tổ chức cán bộ có trách nhiệm trao đổi với công chức và đề xuất cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Tiếp đó, trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề xuất, cơ quan có thẩm quyền phải xem xét, quyết định việc miễn nhiệm. Trường hợp cần thiết vì lý do khách quan, thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 15 ngày làm việc.
Quy định này đặt ra thời hạn tương đối cụ thể cho từng khâu, qua đó hạn chế tình trạng việc xem xét trách nhiệm cán bộ, công chức bị kéo dài khi đã có đủ căn cứ.
Trước khi biểu quyết, tập thể lãnh đạo cơ quan, tổ chức, đơn vị và thường vụ cấp ủy cùng cấp phải thảo luận, xác định rõ căn cứ miễn nhiệm theo đề xuất của cơ quan, bộ phận tham mưu về tổ chức cán bộ. Việc biểu quyết được thực hiện bằng phiếu kín.
Quyết định miễn nhiệm đối với công chức phải đạt trên 50% số thành viên tập thể lãnh đạo, thường vụ cấp ủy cùng cấp đồng ý. Trường hợp đạt 50% trở xuống thì người đứng đầu quyết định theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định theo quy định.
Luật sư Nguyễn Trung Tiệp nhận định, quy trình này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm tính khách quan của quyết định miễn nhiệm. Việc phải trao đổi với công chức, có cơ quan tham mưu, có tập thể lãnh đạo thảo luận và thực hiện biểu quyết bằng phiếu kín giúp hạn chế việc miễn nhiệm chỉ dựa trên đánh giá chủ quan của một cá nhân.
Đồng thời, yêu cầu phải xác định rõ căn cứ miễn nhiệm trước khi biểu quyết cũng góp phần bảo đảm quyết định được đưa ra trên cơ sở những tiêu chí có thể kiểm chứng, thay vì chỉ dựa vào nhận xét chung về năng lực hoặc uy tín.
Việc bổ sung, hoàn thiện các quy định về miễn nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý cho thấy yêu cầu ngày càng cao đối với đội ngũ giữ vị trí lãnh đạo trong bộ máy hành chính.
Không chỉ yêu cầu hoàn thành nhiệm vụ, công chức lãnh đạo, quản lý còn phải duy trì uy tín, giữ gìn phẩm chất, bảo đảm đoàn kết nội bộ và thực hiện đầy đủ trách nhiệm quản lý trong phạm vi được giao.
Đặc biệt, các quy định liên quan đến tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và trách nhiệm người đứng đầu tạo thêm cơ sở để cơ quan có thẩm quyền xử lý đối với những trường hợp không còn đáp ứng yêu cầu của vị trí lãnh đạo, quản lý.
Qua đó, cơ chế miễn nhiệm không chỉ nhằm xử lý những trường hợp yếu kém về năng lực hoặc giảm sút uy tín mà còn góp phần nâng cao trách nhiệm giải trình, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính và bảo đảm hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Hoàng Vũ
2 giờ trước
1 giờ trước
4 phút trước
14 phút trước
11 phút trước
12 phút trước
24 phút trước
30 phút trước
31 phút trước
37 phút trước
49 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước