🔍
Chuyên mục: Giáo dục

'Xuất sắc' không còn là số ít

1 giờ trước
Hơn một nửa sinh viên tốt nghiệp đạt loại xuất sắc có thể là tín hiệu đáng mừng, nếu kết quả ấy phản ánh đúng năng lực người học. Nhưng khi danh hiệu cao nhất trở nên phổ biến, câu hỏi đặt ra cho các trường đại học là chuẩn đánh giá có còn đủ sức phân biệt năng lực và tấm bằng được thị trường lao động tin cậy đến đâu.

Sinh viên Đại học Kinh tế Quốc dân trong Lễ tốt nghiệp (Ảnh minh họa). Nguồn ảnh: nhandan.vn

Năng lực có tương xứng?

Theo công bố của Đại học Kinh tế Quốc dân, trong 5.724 sinh viên tốt nghiệp năm 2026, hơn 51% đạt loại xuất sắc, 17 sinh viên có điểm trung bình tích lũy tuyệt đối 4.0/4.0. Năm 2025, riêng chương trình đại trà của trường có 48,02% sinh viên tốt nghiệp loại xuất sắc và 36,77% loại giỏi. Tính chung, gần 85 trong 100 sinh viên tốt nghiệp chương trình này được xếp loại giỏi hoặc xuất sắc.

Bức tranh khác hẳn tại Trường Đại học Y Hà Nội. Trong 970 sinh viên tốt nghiệp các chương trình đào tạo bác sĩ khóa 2020-2026, không ai đạt loại xuất sắc; 103 người đạt loại giỏi, chiếm 10,6%. TS Đỗ Thanh Hương, Phó Trưởng phòng Quản lý đào tạo đại học của Trường lý giải kết quả này bằng đặc thù đào tạo y khoa và quy trình đánh giá chặt chẽ. Sinh viên phải vượt qua nhiều kỳ thi, từ khoa học cơ bản, y học cơ sở đến lâm sàng, được kiểm tra cả kiến thức, kỹ năng thực hành lẫn khả năng xử lý tình huống.

Dĩ nhiên, không thể đặt hai cơ sở đào tạo với chương trình, thời gian học, phương pháp đánh giá và yêu cầu nghề nghiệp khác nhau lên cùng một thước đo. Song chênh lệch đáng kể ấy vẫn gợi câu hỏi: Cùng là bằng giỏi, xuất sắc, danh hiệu cho biết người học đáp ứng yêu cầu chuyên môn ở mức nào và có đủ tin cậy để nhà tuyển dụng tham khảo?

Chất lượng đầu vào cao, phương pháp giảng dạy hiệu quả, học liệu tốt và nỗ lực của sinh viên đều có thể góp phần làm tăng tỷ lệ tốt nghiệp giỏi, xuất sắc. Đây là những lợi thế đáng ghi nhận, nhưng không thay thế được việc kiểm chứng kết quả đào tạo. Điểm tuyển sinh cao chỉ nói lên năng lực tại thời điểm nhập học; sau vài năm, điều cần biết là người học đã tiến bộ ra sao, làm được những gì.

Vì thế, muốn xác định có lạm phát điểm hay không, cần theo dõi kết quả nhiều khóa trong cùng chương trình và đối chiếu những thay đổi về chuẩn đánh giá. Nếu yêu cầu học phần, đề thi và mức độ vận dụng được nâng lên mà sinh viên vẫn đạt kết quả tốt hơn, đó là tiến bộ thực chất. Ngược lại, nếu điểm tăng nhờ đề thi dễ hơn, yêu cầu giảm hoặc chấm điểm rộng tay, danh hiệu sẽ dần mất khả năng phản ánh năng lực.

Người chịu thiệt trước tiên có thể chính là những sinh viên học giỏi thực sự. Công sức của người nắm chắc kiến thức, làm chủ kỹ năng, có thành tích nổi trội sẽ khó được nhận diện nếu họ nhận cùng danh hiệu với người chỉ đáp ứng những tiêu chí đã nới lỏng. Những tấm bằng đẹp khi ấy có nguy cơ làm mờ đi sự khác biệt cần thiết trong đánh giá.

Kiểm soát lạm phát điểm, bảo vệ giá trị tấm bằng

Theo Công văn số 7314/BGDĐT-GDĐH ngày 16.10.2026, Bộ GD&ĐT yêu cầu các cơ sở đào tạo kiểm soát tình trạng lạm phát điểm số, phân tích kết quả học tập, xếp loại tốt nghiệp theo ngành, khóa học và hình thức đào tạo; đối chiếu với chuẩn đầu ra và phản hồi của doanh nghiệp để phát hiện bất cập.

Bộ yêu cầu không áp đặt tỷ lệ điểm, tỷ lệ tốt nghiệp giỏi, xuất sắc; không hạ chuẩn nhằm tăng thành tích. Các trường phải hoàn thành báo cáo kiểm soát lạm phát điểm và kết quả cải tiến trước khi kết thúc năm học. Yêu cầu này nhằm bảo đảm sự tương xứng giữa kết quả học tập và năng lực thực chất, nâng cao độ tin cậy của bằng cấp, đồng thời bảo vệ quyền lợi của những sinh viên có thành tích nổi trội.

Cần bảo đảm giá trị tấm bằng

Công văn số 7314/BGDĐT GDĐH ngày 16.10.2026 về nhiệm vụ năm học 2026-2027 của Bộ GD&ĐT yêu cầu các cơ sở đào tạo đổi mới quản trị đại học, tạo chuyển biến về chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ cộng đồng. Các trường phải rà soát chuẩn đầu ra, cập nhật kiến thức, kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng trí tuệ nhân tạo phù hợp từng ngành; loại bỏ nội dung lạc hậu, tăng cường tư duy độc lập, phản biện, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm sử dụng công nghệ. Chương trình học cũng cần gắn chặt hơn với thực tiễn nghề nghiệp và nhu cầu doanh nghiệp trong điều kiện cụ thể.

Đáng chú ý, Bộ yêu cầu kiểm soát tình trạng lạm phát điểm số. Các cơ sở đào tạo phải phân tích kết quả học tập, xếp loại tốt nghiệp theo ngành, khóa và hình thức đào tạo; đối chiếu chuẩn đầu ra với phản hồi của doanh nghiệp để phát hiện bất cập. Bộ không cho phép áp đặt tỷ lệ điểm, tỷ lệ tốt nghiệp giỏi, xuất sắc hoặc hạ chuẩn nhằm tăng thành tích. Báo cáo kiểm soát lạm phát điểm và kết quả cải tiến phải hoàn thành trước khi kết thúc năm học.

Yêu cầu ấy đi thẳng vào vấn đề: Điểm số có thể đẹp trên bảng thống kê, nhưng giá trị của nó phải được thử thách ngoài giảng đường. Phản hồi từ cơ quan, doanh nghiệp sử dụng lao động vì vậy là kênh thông tin quan trọng. Sinh viên mới ra trường có đáp ứng công việc, biết vận dụng kiến thức vào tình huống thực tế, còn thiếu những kỹ năng nào? Câu trả lời giúp các trường nhìn rõ khoảng cách giữa nội dung giảng dạy với nhu cầu tuyển dụng, từ đó điều chỉnh chương trình, ngành nghề đào tạo.

Bằng cấp vẫn có giá trị khi nhà tuyển dụng sàng lọc hồ sơ, nhất là ở vòng đầu. Nhưng nếu tỷ lệ xuất sắc ngày càng cao mà tiêu chí đánh giá không được giải thích thuyết phục, sự hoài nghi là khó tránh.

Một bảng điểm gần như hoàn hảo liệu có cho thấy ứng viên đủ năng lực làm việc ở vị trí cụ thể? Danh hiệu tốt nghiệp phải giúp người tuyển dụng nhận diện thế mạnh của ứng viên, thay vì buộc họ tìm thêm nhiều cách khác để phân biệt những hồ sơ đều đẹp như nhau. Khi mọi ứng viên cùng được giới thiệu bằng những con số rất cao, điểm số có nguy cơ giảm sức nặng ngay ở khâu mà nó vốn được kỳ vọng phát huy tác dụng.

Bởi vậy, nhà trường cần công khai và kiểm định thường xuyên cách đo lường kết quả học tập, bảo đảm đề thi, bài tập và đánh giá thực hành bám sát chuẩn đầu ra. Nếu có biểu hiện chạy theo thành tích hay nới lỏng yêu cầu, phải kịp thời chấn chỉnh. Sự minh bạch càng cần thiết khi một trường có tỷ lệ tốt nghiệp xuất sắc vượt trội: Chất lượng ấy được tạo nên từ đâu, qua những khâu đánh giá nào và được xác nhận bằng kết quả gì sau khi sinh viên ra trường?

Thay vì chỉ công bố tỷ lệ bằng giỏi, xuất sắc, các trường cần đưa ra dữ liệu đáng tin cậy về việc làm đúng chuyên ngành, thu nhập và sự tiến bộ trong nghề nghiệp của cựu sinh viên sau một đến ba năm. Những chỉ dấu này không thể thay thế hoàn toàn việc đánh giá chuyên môn, nhưng góp phần cho thấy tấm bằng có đáp ứng đòi hỏi của thực tế. Dữ liệu cũng cần được phân tích theo ngành học, thay vì dùng một tỷ lệ chung để nói thay cho tất cả. Công bố cả những hạn chế được phát hiện và biện pháp khắc phục cũng là cách nhà trường thể hiện trách nhiệm với người học, phụ huynh và xã hội.

Điều phải bảo vệ sau cùng là sự tương xứng giữa danh hiệu và năng lực. Không có lý do gì để nghi ngờ mọi tấm bằng xuất sắc chỉ vì số lượng tăng lên; cũng không thể coi tỷ lệ cao tự thân là bằng chứng chất lượng. Càng nhiều sinh viên được vinh danh, trường đại học càng có trách nhiệm chứng minh chuẩn mực đánh giá của mình. Uy tín không nằm ở số tấm bằng đẹp được trao, mà ở giá trị đáng tin cậy của mỗi tấm bằng khi người học bước vào cuộc sống.

HOÀNG HƯƠNG

TIN LIÊN QUAN




























Home Icon VỀ TRANG CHỦ