🔍
Chuyên mục: Công nghệ

Xây dựng năng lực quan trắc phóng xạ quốc gia

1 giờ trước
Trong bối cảnh Việt Nam triển khai chủ trương phát triển điện hạt nhân, việc xây dựng và hoàn thiện Mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia có ý nghĩa quan trọng trong việc phát hiện sớm các bất thường, hỗ trợ ứng phó sự cố và bảo vệ người dân.

Cán bộ Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân vận hành mạng lưới quan trắc và cảnh báo sớm phóng xạ môi trường do EU tài trợ,

Trong bối cảnh Việt Nam triển khai chủ trương phát triển điện hạt nhân, việc xây dựng và hoàn thiện Mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia có ý nghĩa quan trọng trong việc phát hiện sớm các bất thường, hỗ trợ ứng phó sự cố và bảo vệ người dân.Để hệ thống vận hành hiệu quả, bền vững, việc đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị cần song song với phát triển nguồn nhân lực.

Hoàn thiện mạng lưới quan trắc

Mới đây, theo Quyết định số 710/QĐ-TTg, Mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia (Mạng lưới) được mở rộng bao gồm: Trung tâm điều hành đặt tại Thành phố Hà Nội, 4 trạm vùng tại Hà Nội, Đà Nẵng, Lâm Đồng, Thành phố Hồ Chí Minh và 34 trạm đặt tại các tỉnh, thành phố. Bên cạnh đó, có trạm quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường cấp cơ sở và hệ thống trinh sát, giám sát, quan trắc, cảnh báo phóng xạ môi trường trong Quân đội. Trong tháng 5 vừa qua, Việt Nam đã đưa vào vận hành mạng lưới quan trắc và cảnh báo sớm phóng xạ môi trường do Liên minh châu Âu (EU) tài trợ. Mạng lưới gồm 41 điểm trạm quan trắc phóng xạ trực tuyến, được ưu tiên triển khai tại khu vực phía bắc và các địa bàn trọng điểm trên cả nước. Hiện nay, mạng lưới do Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân (Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam) trực tiếp vận hành. Cùng với quan trắc tự động liên tục, các cán bộ còn lấy mẫu đất, nước, không khí và các đối tượng môi trường khác để phân tích, qua đó đánh giá toàn diện hiện trạng và diễn biến mức phóng xạ môi trường, phục vụ công tác cảnh báo sớm, quản lý nhà nước, ứng phó sự cố bức xạ, hạt nhân.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Hữu Quyết, Viện trưởng Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân, trong giai đoạn 2026-2030, 34 trạm cấp tỉnh cùng Trung tâm điều hành sẽ được nâng cấp, đầu tư xây dựng mới. Khi hoàn thành, toàn bộ dữ liệu từ các trạm sẽ được truyền trực tuyến về Trung tâm điều hành, hình thành hệ thống giám sát tập trung trên phạm vi cả nước. Mô hình này cho phép các cơ quan quản lý theo dõi diễn biến phóng xạ môi trường theo thời gian thực, nhanh chóng phát hiện dấu hiệu bất thường để kịp thời triển khai biện pháp kiểm tra, đánh giá và ứng phó, góp phần nâng cao năng lực cảnh báo sớm và bảo đảm an toàn bức xạ, hạt nhân.

Bên cạnh việc tăng số lượng trạm quan trắc, hiện đại hóa trang thiết bị, Mạng lưới còn là một trong những hạ tầng kỹ thuật quan trọng phục vụ chương trình phát triển điện hạt nhân, góp phần hiện thực hóa nguyên tắc ưu tiên cao nhất đối với an toàn trong phát triển và vận hành điện hạt nhân, đồng thời tạo nền tảng để công khai, minh bạch thông tin về chất lượng môi trường phóng xạ. Khi người dân được tiếp cận các thông tin chính xác, kịp thời và có cơ sở khoa học về hiện trạng môi trường, niềm tin của cộng đồng và sự đồng thuận xã hội đối với chương trình điện hạt nhân sẽ được củng cố, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các chủ trương phát triển năng lượng hạt nhân trong thời gian tới.

Việc hình thành Mạng lưới cũng tạo điều kiện để công tác quan trắc được bố trí nguồn lực ổn định và bền vững hơn. Trước đây, hoạt động quan trắc tại một số thời điểm còn gặp khó khăn về kinh phí, ảnh hưởng đến việc duy trì vận hành, bảo dưỡng thiết bị cũng như thực hiện chương trình lấy mẫu và phân tích định kỳ. Trong bối cảnh Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) liên tục cập nhật các tiêu chuẩn và hướng dẫn về quan trắc phóng xạ môi trường nhằm nâng cao năng lực bảo vệ người dân và môi trường, hệ thống quan trắc của Việt Nam cần tiếp tục được đầu tư, nâng cấp để đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật ngày càng cao.

Theo lãnh đạo Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân, nhiều thành phần quan trọng của hệ thống như mạch điện tử, phần mềm xử lý tín hiệu và một số cảm biến đã và đang được nghiên cứu, phát triển trong nước. Đặc biệt, các nhà khoa học đang triển khai các đề tài nhằm làm chủ công nghệ chế tạo tinh thể đầu dò bức xạ - bộ phận quyết định độ nhạy và khả năng phát hiện bức xạ của thiết bị quan trắc. Việc làm chủ công nghệ đã góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu, thiết kế và chế tạo thiết bị trong nước và giảm sự phụ thuộc vào nguồn cung từ nước ngoài, chủ động hơn trong công tác bảo trì, sửa chữa, thay thế linh kiện. Đây là nền tảng quan trọng để từng bước phát triển ngành công nghiệp thiết bị hạt nhân trong nước và đáp ứng yêu cầu mở rộng và hiện đại hóa Mạng lưới trong những năm tới.

Bài toán về nhân lực

Cùng với việc mở rộng Mạng lưới, bài toán nhân lực đang trở thành một trong những thách thức lớn nhất. Hệ thống càng hiện đại, phạm vi giám sát càng rộng thì nhu cầu về đội ngũ vận hành, bảo trì, lấy mẫu, phân tích và xử lý dữ liệu càng tăng, trong khi nguồn nhân lực hiện nay còn rất hạn chế. Là người trực tiếp vận hành hệ thống quan trắc và cảnh báo sớm phóng xạ môi trường do Liên minh châu Âu (EU) tài trợ, Thạc sĩ Cao Đức Việt, nghiên cứu viên Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân cho biết, hiện chỉ có 16 cán bộ đảm nhiệm vận hành toàn bộ hệ thống. Ngoài việc theo dõi hoạt động của các trạm quan trắc, đội ngũ kỹ thuật còn phải thường xuyên đến hiện trường để bảo trì, khắc phục sự cố và lấy mẫu môi trường phục vụ phân tích trong phòng thí nghiệm, do đó các cán bộ phải hỗ trợ lẫn nhau để duy trì hoạt động của hệ thống.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Hữu Quyết, khi Mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia được triển khai đầy đủ, riêng Trung tâm điều hành sẽ cần khoảng 30-35 cán bộ, gấp gần hai lần lực lượng hiện nay. Tuy nhiên, việc bổ sung nhân lực đang gặp nhiều khó khăn do chưa có chỉ tiêu tuyển dụng phù hợp cũng như cơ chế đặc thù đủ sức thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao.

Ở góc độ chuyên môn, Tiến sĩ Nguyễn Hào Quang, nguyên Phó Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam cho rằng, thách thức không chỉ nằm ở đơn vị đầu mối mà còn ở các địa phương. Cùng với việc bổ sung nhân lực cho trung tâm điều hành, các trạm vùng, cần xây dựng chương trình đào tạo thường xuyên cho lực lượng cán bộ tại địa phương nhằm bảo đảm khả năng vận hành thống nhất trên toàn quốc. Để đáp ứng yêu cầu về nhân lực theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành năm 2013, lâu nay, các địa phương không tuyển dụng được do không có chỉ tiêu biên chế chuyên trách. Bởi vậy, cần sớm có cơ chế phối hợp giữa Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Nội vụ trong việc bố trí biên chế cho hệ thống quan trắc phóng xạ môi trường.

Bên cạnh đó, nhiều chuyên gia giàu kinh nghiệm đang đến tuổi nghỉ hưu, trong khi việc đào tạo đội ngũ kế cận đòi hỏi nhiều năm tích lũy kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn. Vì vậy, việc giải quyết bài toán nhân lực cần được triển khai sớm để bảo đảm hệ thống quan trắc vận hành ổn định, liên tục, đáp ứng yêu cầu bảo đảm an toàn bức xạ, hạt nhân trong giai đoạn mới.

HÀ LINH

TIN LIÊN QUAN















Home Icon VỀ TRANG CHỦ