🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc đồng bộ trên nền tảng số quốc gia:Từ yêu cầu của thị trường đến hạ tầng quản lý

5 giờ trước
Trong bối cảnh các thị trường lớn siết chặt yêu cầu minh bạch chuỗi cung ứng, truy xuất nguồn gốc đã trở thành điều kiện bắt buộc đối với hàng hóa Việt Nam.

Việc xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc đồng bộ trên nền tảng số, gắn với tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TƯ của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và vai trò dẫn dắt của Bộ Khoa học và Công nghệ đang là yêu cầu cấp thiết để nâng cao năng lực quản lý, chống gian lận thương mại và tăng sức cạnh tranh cho hàng hóa Việt Nam.

Người tiêu dùng truy xuất nguồn gốc sản phẩm nông sản tại siêu thị Winmart (phường Nghĩa Đô). Ảnh: Nguyễn Quang

Lỗ hổng truy xuất nguồn gốc

Trong tiến trình hội nhập sâu rộng, truy xuất nguồn gốc đang chuyển từ vai trò là công cụ hỗ trợ sang điều kiện tiên quyết đối với hàng hóa, đặc biệt là hàng xuất khẩu. Các thị trường như Liên minh châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản hay Trung Quốc đều triển khai những quy định ngày càng khắt khe về minh bạch chuỗi cung ứng, yêu cầu doanh nghiệp cung cấp đầy đủ thông tin về nguyên liệu đầu vào, quy trình sản xuất, tiêu chuẩn môi trường và trách nhiệm xã hội.

Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn đo lường chất lượng quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ) Nguyễn Nam Hải cho biết, sau 5 năm triển khai Quyết định số 100/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án triển khai, áp dụng và quản lý hệ thống truy xuất nguồn gốc (Đề án 100), Việt Nam đã từng bước hình thành hạ tầng dữ liệu truy xuất nguồn gốc và Cổng truy xuất nguồn gốc quốc gia. Hệ thống này kết nối các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp, tạo nền tảng cho quản lý chất lượng sản phẩm minh bạch hơn.

Nhiều mô hình bước đầu cho thấy hiệu quả rõ rệt. Khi sản phẩm được gắn mã QR, người tiêu dùng có thể kiểm tra thông tin vùng trồng, ngày thu hoạch, đơn vị đóng gói, tiêu chuẩn chất lượng. Việc minh bạch thông tin giúp nâng cao giá trị sản phẩm, giảm nguy cơ làm giả, đồng thời tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường.

Tuy nhiên, kết quả đạt được mới dừng ở mức bước đầu. Nhiều hệ thống truy xuất được xây dựng độc lập, không tuân theo một tiêu chuẩn, quy chuẩn chung nên không thể liên thông. Cùng một chuỗi cung ứng nhưng tồn tại nhiều “hệ ngôn ngữ dữ liệu” khác nhau. Một số doanh nghiệp lớn áp dụng đầy đủ tiêu chuẩn quốc tế như GS1 (xác định và quản lý thông tin sản phẩm thông qua mã số và mã vạch), trong khi nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng mã tự sinh, QR “tự chế”, lưu trữ dữ liệu trên máy chủ riêng, gây khó khăn cho việc tích hợp ở quy mô quốc gia.

Tình trạng dữ liệu phân tán, thiếu xác thực cũng làm giảm giá trị thông tin truy xuất. Phần lớn dữ liệu do doanh nghiệp tự nhập, trong khi sự tham gia xác nhận của cơ quan quản lý còn hạn chế. Ở thị trường nội địa, vẫn tồn tại tình trạng tem nhãn truy xuất chỉ mang tính hình thức, thông tin không đầy đủ, thậm chí bị làm giả.

Rõ ràng, khi mỗi địa phương, mỗi ngành, mỗi doanh nghiệp vận hành một hệ thống riêng lẻ, mục tiêu xây dựng một nền tảng truy xuất có tính quốc gia sẽ khó đạt được. Điều này đặt ra yêu cầu phải nâng việc truy xuất nguồn gốc từ cấp độ giải pháp đơn lẻ lên thành một cấu phần của hạ tầng số quốc gia.

Khẳng định vai trò “nhạc trưởng”

Từ góc độ quản lý, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định cho rằng, khi các quốc gia triển khai truy xuất bắt buộc và áp dụng hộ chiếu số sản phẩm, Việt Nam cần nâng truy xuất nguồn gốc lên thành một hệ thống quản lý quốc gia, vận hành đồng bộ và dựa trên nền tảng công nghệ số. Đây không chỉ là công cụ quản lý trong nước mà còn là điều kiện để hàng hóa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Về mặt công nghệ, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Chu Hoàng Hà cho rằng, Việt Nam có đủ năng lực phát triển hệ sinh thái truy xuất hiện đại dựa trên mã QR động, Internet vạn vật, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo... Công nghệ này cho phép thu thập, lưu trữ và xác minh dữ liệu theo thời gian thực, bảo đảm tính minh bạch và khó bị can thiệp. Khi được tích hợp với hải quan điện tử, thương mại điện tử và hệ thống quản lý chất lượng, truy xuất nguồn gốc sẽ giúp giảm chi phí tuân thủ, tăng hiệu quả quản lý và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.

Ngày 23-1-2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 37/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm hoàn thiện khung pháp lý, tạo nền tảng hiện đại hóa công tác quản lý chất lượng trên cơ sở hạ tầng chất lượng quốc gia và chuyển đổi số đồng bộ.

Thực tiễn gần đây cho thấy, việc Bộ Nông nghiệp và Môi trường ra mắt hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản Việt Nam và triển khai thí điểm với trái sầu riêng trong 6 tháng là minh chứng cho quá trình cụ thể hóa chủ trương xây dựng hạ tầng dữ liệu chuyên ngành. Tuy nhiên, để các hệ thống truy xuất này không vận hành rời rạc mà thực sự phát huy hiệu quả, điều kiện tiên quyết là phải có một bộ tiêu chuẩn chung và cơ chế kết nối thống nhất ở cấp quốc gia. Trong cấu trúc đó, Bộ Khoa học và Công nghệ, với vai trò cơ quan đầu mối về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và hạ tầng dữ liệu, được xác định là “nhạc trưởng” điều phối, bảo đảm tính đồng bộ và liên thông.

Ở tầm nhìn dài hạn, khi mỗi sản phẩm được xây dựng một “hồ sơ số” đầy đủ, cập nhật xuyên suốt từ khâu sản xuất đến tay người tiêu dùng, truy xuất nguồn gốc sẽ vượt ra khỏi phạm vi công cụ kiểm soát chất lượng hay chống hàng giả. Đó sẽ trở thành một cấu phần thiết yếu của hạ tầng số quốc gia, góp phần củng cố niềm tin thị trường, bảo vệ người tiêu dùng và nâng cao vị thế hàng hóa Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Thu Hằng



















Home Icon VỀ TRANG CHỦ