🔍
Chuyên mục: Xã hội

Xây dựng hệ sinh thái chăm sóc sức khỏe nhạy cảm giới

2 giờ trước
Nếu coi sức khỏe là thước đo trung thực của công bằng xã hội, thì hệ thống y tế chính là nơi bình đẳng giới phải được hiện thực hóa rõ ràng nhất. Câu hỏi đặt ra là cần thay đổi gì để bình đẳng giới không chỉ đúng về nguyên tắc, mà đúng trong từng ca bệnh?

SKĐS - Nếu coi sức khỏe là thước đo trung thực của công bằng xã hội, thì hệ thống y tế chính là nơi bình đẳng giới phải được hiện thực hóa rõ ràng nhất. Câu hỏi đặt ra là cần thay đổi gì để bình đẳng giới không chỉ đúng về nguyên tắc, mà đúng trong từng ca bệnh?

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác lập một tâm thế mới: Đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình, nơi con người là trung tâm, là chủ thể và là mục tiêu cao nhất của mọi sự phát triển. Tuy nhiên, tâm thế ấy chỉ thực sự trọn vẹn khi những "khoảng lặng" về bất bình đẳng giới trong sức khỏe được khơi thông.

Khi Chỉ thị số 21-CT/TW 2018 của Ban Bí thư về công tác phụ nữ và Nghị quyết 80-NQ/TW về xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam trở thành "kim chỉ nam", một mệnh lệnh không thể trì hoãn đó là xây dựng một hệ sinh thái 'chăm sóc sức khỏe nhạy cảm giới'. Đây không đơn thuần là một giải pháp kỹ thuật hay sự ưu tiên mang tính phong trào, mà là một cuộc cách mạng về tư duy quản trị y tế – nơi mỗi quy trình chẩn đoán, mỗi chính sách an sinh phải thấu cảm được đặc thù sinh lý và gánh nặng xã hội của phụ nữ.

Chỉ khi mệnh lệnh từ Nghị quyết hòa quyện vào nhịp thở cuộc sống, 11 năm bệnh tật của phụ nữ mới có thể được thay thế bằng những năm tháng sống khỏe mạnh và hạnh phúc thực chất.

Trong nhiều năm, y tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu lớn về chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, mở rộng bảo hiểm y tế toàn dân, nâng cao năng lực tuyến cơ sở. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, lồng ghép giới trong y tế vẫn chưa đồng đều.

Việc đi khám muộn khiến nhiều vấn đề sức khỏe từ chỗ có thể chữa khỏi hoàn toàn trở thành gánh nặng kéo dài suốt đời. Nhiều bệnh như ung thư cổ tử cung, ung thư vú hay tiểu đường nếu phát hiện sớm có khả năng điều trị rất cao, nhưng khi trì hoãn, bệnh thường chuyển sang giai đoạn muộn, khiến việc điều trị chỉ còn mang tính duy trì. Bên cạnh đó, những vấn đề nhỏ như đau lưng hay thiếu máu nếu không được xử lý sớm cũng có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng về sau.

Sự chậm trễ này còn làm suy giảm chất lượng sống của phụ nữ. Họ thường sống trong trạng thái mệt mỏi, đau nhức kéo dài nhưng vẫn phải gánh vác công việc và chăm sóc gia đình. Khi bệnh trở nặng ở tuổi già, chi phí điều trị lại tăng cao, tạo áp lực tài chính cho cả gia đình. Đồng thời, việc sống chung với bệnh tật lâu dài khiến nhiều phụ nữ mất dần khả năng tự chăm sóc và dễ rơi vào cảm giác phụ thuộc, cô đơn.

BS Trần An Chung cho biết, trong y học và nhân chủng học, các bác sĩ tách bạch hai khái niệm này rất rõ ràng. Tuổi thọ trung bình (LE) là tổng số năm một người dự kiến sẽ sống. Số năm sống khỏe mạnh (HALE - Healthy Life Expectancy) là số năm một người sống trong tình trạng sức khỏe tốt, không bị tàn tật hoặc mắc bệnh mãn tính nghiêm trọng làm hạn chế hoạt động.

Tại Việt Nam, nghịch lý nằm ở chỗ: LE của phụ nữ rất cao, nhưng HALE lại thấp đáng báo động.

BS Chung cho biết, ngành y tế Việt Nam và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) theo dõi rất sát sao chỉ số HALE và một chỉ số bổ trợ là DALY (Disability-Adjusted Life Year - Số năm sống hiệu chỉnh theo mức độ tàn tật).

Đáng tiếc, dữ liệu này cho thấy 3 sự thật phũ phàng về phụ nữ Việt Nam: Một là "khoảng trống bệnh tật" quá lớn. Phụ nữ Việt Nam có tuổi thọ trung bình khoảng 77 tuổi, nhưng số năm sống khỏe mạnh chỉ dừng lại ở khoảng 65 tuổi. Nghĩa là họ có 12 năm sống trong đau đớn, phụ thuộc hoặc thuốc thang. Ở nam giới, khoảng cách này chỉ khoảng 8 năm.

Hài là mô hình bệnh tật kép: Phụ nữ không chỉ đối mặt với các bệnh lây nhiễm mà còn chịu trận trước các bệnh không lây nhiễm (NCDs) như xương khớp, tim mạch, tiểu đường và các rối loạn tâm thần tuổi già với thời gian chịu đựng dài hơn nam giới.

Bà là bất bình đẳng trong gánh nặng chăm sóc. Vì sống lâu hơn nhưng lại yếu hơn, phụ nữ vừa là người chăm sóc chính cho chồng (người thường ra đi sớm hơn), vừa là người cần được chăm sóc trong một thời gian dài sau đó, tạo ra áp lực khổng lồ lên hệ thống an sinh xã hội.

"Nếu chỉ nhìn vào tuổi thọ, các nhà hoạch định chính sách có thể lầm tưởng phụ nữ đang "ổn". Nhưng khi nhìn vào HALE, chúng ta thấy một bức tranh khác. Về kinh tế, 11 năm sống bệnh tật tiêu tốn một khoản chi phí y tế khổng lồ, thường rơi vào giai đoạn không còn thu nhập. Về chất lượng sống, sống lâu mà không khỏe mạnh thường đi kèm với sự suy giảm lòng tự trọng, cảm giác trở thành "gánh nặng" cho con cái.

Mục tiêu của chúng ta phải là kéo dài số năm sống khỏe mạnh (HALE) tiệm cận với tuổi thọ (LE). Một người phụ nữ sống đến 80 tuổi và chỉ đau ốm 2 năm cuối đời thì thành công hơn nhiều so với người sống đến 85 tuổi nhưng đã phải nằm xe lăn từ năm 70 tuổi", BS Trần An Chung nói.

Theo BS Trần An Chung, Để rút ngắn khoảng cách 11 năm "sống mòn" đó, y học hiện đại khuyến nghị phụ nữ chú trọng 3 cột mốc: Giai đoạn vàng (20-40 tuổi): Tích lũy mật độ xương và cơ. Giai đoạn chuyển đổi (45-55 tuổi): Kiểm soát nghiêm ngặt nội tiết và chuyển hóa tiền mãn kinh. Giai đoạn duy trì (Sau 60 tuổi): Duy trì sự minh mẫn và khả năng vận động tự chủ.

Theo TS Angela Pratt, Trưởng Đại diện WHO tại Việt Nam, giới tính thường tương tác với nhiều yếu tố quyết định xã hội khác – như tình trạng nghèo đói, trình độ học vấn, dân tộc, vị trí địa lý và tình trạng khuyết tật – làm gia tăng mức độ bất bình đẳng đối với nhiều nhóm dân số. Tại Việt Nam, những nhóm chịu ảnh hưởng nhiều nhất bao gồm: phụ nữ dân tộc thiểu số ở vùng sâu vùng xa; nhóm dân cư thuộc diệnnghèo đói; người có trình độ học vấn thấp; người đa dạng giới; người di cư; người lao động tự do; và người khuyết tật.

TS Angela Pratt, Trưởng Đại diện WHO tại Việt Nam.

Theo bà, phụ nữ dân tộc thiểu số thường phải đối mặt với nhiều rào cản trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh kịp thời và có chất lượng. Những rào cản này có thể bao gồm khoảng cách địa lý đến cơ sở y tế, thiếu nhân lực y tế có chuyên môn hoặc trang thiết bị thiết yếu, khó khăn về ngôn ngữ và giao tiếp, cũng như các khoản chi phí người bệnh phải tự chi trả đối với những dịch vụ chưa được bảo hiểm y tế chi trả.

"Tại một số khu vực vùng sâu, vùng xa, tỷ lệ tử vong mẹ vẫn cao gấp hơn hai lần so với mức trung bình toàn quốc. Điều này cho thấy sự cần thiết phải tiếp tục tăng cường hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu, nâng cao năng lực dịch vụ sản khoa cấp cứu, và mở rộng các cơ chế bảo vệ tài chính cho người dân", TS Angela Pratt nói.

Vì vậy, cách tiếp cận liên ngành và đa chiều – tức là cách tiếp cận thừa nhận sự giao thoa giữa giới với các yếu tố bất lợi xã hội khác – là rất quan trọng để xây dựng các chính sách và dịch vụ y tế có thể tiếp cận đúng những nhóm dân số đang cần hỗ trợ nhất.

Việt Nam đang đạt được những tiến bộ trong lĩnh vực này, nhưng cũng như nhiều quốc gia khác, vẫn còn nhiều việc cần làm để lồng ghép đầy đủ góc nhìn giới trong nghiên cứu, chẩn đoán và điều trị. Trong nhiều thập kỷ, phần lớn các nghiên cứu lâm sàng và tiêu chí chẩn đoán trên thế giới được xây dựng chủ yếu dựa trên các mô hình nghiên cứu lấy nam giới làm trung tâm.

Điều này ảnh hưởng đến cách thức bệnh tật được hiểu và phát hiện ở phụ nữ cũng như ở những người đa dạng giới. Ví dụ, các triệu chứng của phụ nữ – đặc biệt trong các bệnh tim mạch, các rối loạn đau hoặc các bệnh tự miễn – đôi khi bị xem nhẹ hoặc được quy cho căng thẳng hay lo âu, dẫn đến chẩn đoán sai hoặc chậm trễ trong việc tiếp cận điều trị phù hợp.

Để tăng cường chăm sóc sức khỏe đáp ứng giới, cần lồng ghép dữ liệu phân tách theo giới vào toàn bộ hệ thống thông tin y tế, thiết kế các nghiên cứu bảo đảm sự tham gia đầy đủ của cả nam và nữ, cập nhật các hướng dẫn chuyên môn để phản ánh sự khác biệt về biểu hiện lâm sàng giữa các giới, và đào tạo nhân viên y tế về chăm sóc đáp ứng giới và lấy người bệnh làm trung tâm. Điều này cũng bao gồm việc bảo đảm các dịch vụ sức khỏe sinh sản và tình dục, chăm sóc sức khỏe tâm thần và các dịch vụ thiết yếu về bệnh không lây nhiễm được tiếp cận bình đẳng cho mọi giới, không có kỳ thị hay phân biệt đối xử.

BS Trần An Chung cho biết, thực tế, hệ thống chính sách của chúng ta đã có những bước tiến, nhưng vẫn còn khoảng cách lớn giữa văn bản và thực tiễn.

Việc độ phủ Bảo hiểm Y tế tăng cao giúp phụ nữ nghèo tiếp cận được các dịch vụ cơ bản. Chương trình mục tiêu quốc gia có các gói hỗ trợ chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em riêng cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số (hỗ trợ chi phí sinh đẻ tại bệnh viện).

Những "lỗ hổng" chính sách có thể kể đến là chưa có "Y học giới tính" (Gender-specific medicine) trong chính sách. Các gói khám sức khỏe định kỳ cho công nhân viên chức vẫn còn chung chung, chưa tập trung vào các vấn đề dài hạn của phụ nữ như tầm soát mật độ xương sớm, phục hồi sàn chậu hay tư vấn tâm lý hậu sản.

Thiếu mạng lưới an sinh cho lao động tự do. Phụ nữ lao động nặng nhọc phần lớn là lao động tự do, không có chế độ thai sản, không có nghỉ phép năm. Họ buộc phải đi làm ngay sau sinh, đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến bệnh tật về sau.

Về chăm sóc giảm nhẹ và hỗ trợ người cao tuổi, chính sách hiện nay vẫn mặc định việc chăm sóc người già là trách nhiệm của gia đình (mà thực tế là của phụ nữ). Chưa có nhiều trung tâm chăm sóc ban ngày hoặc hệ thống điều dưỡng cộng đồng để giải phóng sức lao động cho phụ nữ.

Để thay đổi điều này, BS Chung cho rằng thay vì chỉ gặp bác sĩ khi mang thai hoặc khi có bệnh, phụ nữ cần một lộ trình theo dõi xuyên suốt. Đó là thiết lập "Hồ sơ quản lý sức khỏe phụ nữ". Một hệ thống bệnh án điện tử kết nối dữ liệu từ lúc dậy thì, các kỳ sinh nở, cho đến khi mãn kinh. Ví dụ: Nếu một phụ nữ bị tiền sản giật lúc 25 tuổi, hệ thống sẽ tự động nhắc nhở bác sĩ nội khoa kiểm tra tim mạch định kỳ cho cô ấy khi cô ấy bước sang tuổi 40.

Giai đoạn "Tam cá nguyệt thứ 4" mở rộng. Không chỉ chăm sóc 6 tuần hậu sản. Hệ thống y tế cần có các gói phục hồi chức năng sàn chậu, tư vấn tâm lý và điều chỉnh nội tiết kéo dài ít nhất 1 năm sau khi sinh để "xóa nợ" thể chất cho người mẹ.

Đặc biệt ông nhấn mạnh phải tích hợp chuyên sâu: Sàn chậu và Sức khỏe tâm thần. Đây là hai mảng đang bị "bỏ rơi" nhiều nhất trong hệ thống y tế hiện nay.

Cần phổ cập vật lý trị liệu sàn chậu. Tại các nước tiên tiến như Pháp, phục hồi sàn chậu sau sinh là một dịch vụ bắt buộc được bảo hiểm chi trả. Việt Nam cần đưa việc tập luyện cơ sàn chậu vào danh mục chăm sóc sau sinh tại các tuyến huyện để ngăn ngừa sa tử cung và són tiểu sau này.

Đưa việc đánh giá sức khỏe tâm thần (trầm cảm, lo âu) vào các đợt tiêm chủng định kỳ của con. Khi trẻ đi tiêm, mẹ cũng sẽ được sàng lọc tâm lý.

"Hệ thống y tế cần nhận ra phụ nữ không phải là "nam giới phiên bản nhỏ hơn". Do vậy phải cá thể hóa các gói khám tầm soát: Thay vì các gói khám sức khỏe doanh nghiệp chung chung, cần thiết kế các gói tầm soát dành riêng cho phụ nữ theo độ tuổi (ví dụ: đo mật độ xương sớm hơn cho phụ nữ sinh nhiều con, tầm soát ung thư phụ khoa định kỳ).

Phát triển y tế từ xa (Telemedicine) cho phụ nữ nông thôn. Phát triển các nền tảng tư vấn từ xa để phụ nữ bận rộn hoặc ở vùng khó khăn có thể kết nối với chuyên gia sản phụ khoa và tâm lý mà không cần phải bỏ việc đồng áng hay gia đình để lên tuyến trên", BS Trần An Chung khuyến nghị.

Mục tiêu cuối cùng là rút ngắn khoảng cách 11 năm bệnh tật xuống còn 2-3 năm cuối đời. Để làm được điều này, hệ thống y tế phải giúp phụ nữ hiểu rằng: Chăm sóc bản thân là một khoản đầu tư, không phải là sự xa xỉ.

"Nếu chúng ta chăm sóc người mẹ tốt hơn ngày hôm nay, chúng ta không chỉ giảm được gánh nặng y tế trong 30 năm tới, mà còn xây dựng được một thế hệ trẻ em khỏe mạnh hơn từ chính đôi tay của những người mẹ khỏe mạnh", BS Trần An Chung nhận định.

Một hệ thống y tế công bằng không phải là hệ thống đối xử giống nhau với tất cả mọi người, mà là hệ thống đáp ứng đúng nhu cầu khác biệt của từng nhóm. Khi phụ nữ không còn bị chẩn đoán muộn vì triệu chứng "không điển hình". Khi nam giới không còn xấu hổ vì tìm kiếm hỗ trợ tâm lý.

Khi mọi người được chăm sóc sức khỏe phù hợp với giới, hoàn cảnh và nhu cầu của mình. Khi đó, bình đẳng giới trong y tế mới thực sự trở thành nền tảng cho một xã hội khỏe mạnh, bao trùm và phát triển bền vững.

TS Angela Pratt đề xuất, để cải thiện bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe, Việt Nam phải lồng ghép yếu tố giới trong toàn bộ quá trình xây dựng và hoạch định chính sách y tế, bảo đảm dữ liệu được phân tách theo giới và độ tuổi được thu thập và sử dụng trong tất cả các khảo sát, hệ thống giám sát và thống kê dịch vụ y tế; đồng thời khắc phục những khoảng trống dữ liệu trong các lĩnh vực như sức khỏe tâm thần, phẫu thuật và ung thư.

Tăng cường hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu đáp ứng giới. Lồng ghép các hoạt động sàng lọc và tư vấn về yếu tố nguy cơ sức khỏe, cũng như sàng lọc bệnh không lây nhiễm vào các lần khám chữa bệnh thường quy; bảo đảm các quy trình chẩn đoán có tính đến khác biệt giới tính; và mở rộng các mô hình cung cấp dịch vụ lấy người dân làm trung tâm nhằm giảm các rào cản về thời gian và chi phí. Nghị quyết 72 và chương trình khám sức khỏe định kỳ hằng năm miễn phí tạo ra những cơ hội quan trọng để thúc đẩy các mục tiêu này.

Thúc đẩy sức khỏe và quyền về sức khỏe sinh sản và tình dục bảo đảm mọi người đều có quyền tiếp cận công bằng với các dịch vụ chất lượng về chăm sóc trước sinh, trong sinh, sau sinh và kế hoạch hóa gia đình, bao gồm cả tại các khu vực vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Xây dựng lực lượng lao động y tế trở thành hình mẫu về bình đẳng giới, thu hẹp khoảng cách tiền lương, hỗ trợ các hình thức làm việc linh hoạt, mở rộng dịch vụ chăm sóc trẻ em, và đầu tư vào các chương trình phát triển lãnh đạo dành cho phụ nữ.

Giảm các rào cản tài chính đối với dịch vụ y tế bằng mở rộng các cơ chế bảo vệ tài chính cho các dịch vụ và thuốc thiết yếu, đặc biệt đối với người lao động trong khu vực phi chính thức và các hộ gia đình thu nhập thấp.

"Những biện pháp này, khi được triển khai đồng bộ, sẽ giúp Việt Nam cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng cao, công bằng và đáp ứng giới cho tất cả mọi người, ở mọi nơi", TS Angela Pratt nói.

Suy cho cùng, hành trình hướng tới bình đẳng giới trong y tế không đơn thuần là câu chuyện của những con số thống kê hay quy trình kỹ thuật, mà là sự thực thi trách nhiệm đối với hệ giá trị con người Việt Nam mẫu mực, nghĩa tình và nhân văn đã được định vị rõ nét trong Nghị quyết 80-NQ/TW. Một xã hội không thể tự hào về sự "phồn vinh, hạnh phúc" khi một nửa thế giới vẫn phải âm thầm đánh đổi 11 năm cuối đời trong đau đớn bệnh tật để đổi lấy danh hiệu "sống lâu".

Việc lồng ghép giới vào chính sách y tế, khơi thông những "khoảng lặng" y đức và xóa bỏ định kiến giới dưới tấm áo trắng chính là cách chúng ta bồi đắp sức mạnh nội sinh cho dân tộc trong kỷ nguyên vươn mình. Khi mỗi người thầy thuốc Đảng viên coi sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe là một giá trị văn hóa tự thân, khi mỗi phụ nữ không còn phải đứng sau mọi sự ưu tiên để rồi bỏ lỡ "thời gian vàng" của chính cơ thể mình, đó là lúc nhịp đập của Ý Đảng đã thực sự hòa quyện cùng lòng Dân. Bình đẳng giới từ gốc rễ sức khỏe, vì thế, chính là nấc thang văn minh để chúng ta bước vào kỷ nguyên mới với một vị thế tự tin, tự chủ và tràn đầy khát vọng vì con người.

Khép lại tuyến bài "Bình đẳng giới nhìn từ sức khỏe", một thông điệp xuyên suốt đã được định hình rõ nét: Công bằng y tế chính là thước đo trung thực nhất cho sự văn minh của một quốc gia trong kỷ nguyên mới. Việc thực thi Nghị quyết 80-NQ/TW trong ngành Y không chỉ để giải quyết những con số thống kê về tuổi thọ hay gánh nặng bệnh tật, mà là để bồi đắp "sức mạnh nội sinh" cho dân tộc từ gốc rễ con người.

Khi hệ sinh thái y tế nhạy cảm giới được vận hành bằng trái tim liêm chính của người thầy thuốc và sự dẫn dắt quyết liệt của các cấp ủy Đảng, người phụ nữ sẽ không còn phải đơn độc trong vòng xoáy của "thiên chức" và bệnh tật. Sự hy sinh thầm lặng của họ cần được đền đáp bằng một hệ thống bảo vệ sức khỏe công bằng, nhân văn và chuyên nghiệp. Việt Nam chỉ có thể vươn mình mạnh mẽ khi một nửa thế giới không bị bỏ lại phía sau trong những cơn đau thầm lặng. Sứ mệnh hàn gắn niềm tin và xây dựng một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc phải bắt đầu từ việc trả lại cho phụ nữ quyền được sống khỏe, sống trọn vẹn và sống cho chính mình – ngay từ hôm nay.

Tác giả: Nguyên Thủy - Tô Hội

Đồ họa: Hoàng Việt

Ảnh: Vũ Đồng - Thành Long

TIN LIÊN QUAN



















Home Icon VỀ TRANG CHỦ