VKSND tối cao hướng dẫn tạm thời về trình chiếu tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa xét xử các vụ án hình sự
Hướng dẫn này quy định về nguyên tắc, điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục và trách nhiệm phối hợp trong việc trình chiếu tài liệu, chứng cứ bằng phương tiện điện tử tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, phúc thẩm các vụ án hình sự.
Hướng dẫn này áp dụng đối với VKSND tỉnh, thành phố được lựa chọn thí điểm, gồm: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Bắc Ninh và Lai Châu.
Đối với các đơn vị thuộc VKSND tối cao, VKSND các tỉnh, thành phố không được lựa chọn thí điểm thì tùy theo điều kiện kỹ thuật và thực tiễn công tác có thể nghiên cứu, vận dụng thực hiện Hướng dẫn này.
Viện trưởng, Phó Viện trưởng; Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng; Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, công chức được giao giúp việc cho Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử các vụ án hình sự.
Bảo đảm tính hợp pháp, khách quan, chính xác, quyền tố tụng
Theo Hướng dẫn, việc trình chiếu tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa phải bảo đảm các nguyên tắc sau: Tính hợp pháp: Trình chiếu đúng trình tự, thủ tục tố tụng và tuân thủ sự điều hành của Chủ tọa phiên tòa;
Tính khách quan, chính xác: Bảo đảm phản ánh đúng, đầy đủ nội dung tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Nghiêm cấm mọi hành vi cắt xén, chỉnh sửa, thêm bớt hoặc làm sai lệch nội dung tài liệu, chứng cứ;
Bảo đảm quyền tố tụng: Bảo đảm quyền tranh tụng, quyền tiếp cận chứng cứ của bị cáo, bị hại, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác theo quy định pháp luật;
Tính bổ trợ: Việc trình chiếu nhằm làm rõ, tăng tính thuyết phục cho hoạt động xét hỏi, tranh luận của Kiểm sát viên; không thay thế hoạt động xét hỏi, tranh luận và không cản trở quyền của những người tham gia tố tụng.
Về tài liệu, chứng cứ trình chiếu, Hướng dẫn nêu rõ, tài liệu, chứng cứ trình chiếu tại phiên tòa là tài liệu, chứng cứ đã được thu thập, kiểm tra, đánh giá theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, có trong hồ sơ vụ án, đã được ký số hoặc số hóa theo quy định, bao gồm: Vật chứng; Lời khai, lời trình bày; Dữ liệu điện tử; Kết luận giám định, định giá tài sản; Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác; Các tài liệu, đồ vật khác.

Kiểm sát viên hỏi và trình chiếu chứng cứ tại một phiên tòa hình sự. (Ảnh minh hoạ)
Cũng theo Hướng dẫn, Kiểm sát viên thực hiện trình chiếu tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa khi thuộc một trong các trường hợp sau: Vụ án có tính chất phức tạp hoặc tài liệu, chứng cứ mâu thuẫn cần làm rõ; bị can, bị cáo không nhận tội hoặc lúc nhận tội lúc không nhận tội; có khiếu nại, tố cáo về hoạt động tố tụng trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; theo đề nghị của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa; các trường hợp khác khi xét thấy cần thiết.
Việc trình chiếu tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa được Kiểm sát viên ghi nhận lại vào bút ký phiên tòa.
Thời điểm, nội dung trình chiếu
Mặt khác, Hướng dẫn cũng nêu rõ về thời điểm, nội dung trình chiếu. Cụ thể, trình chiếu tài liệu, chứng cứ được thực hiện trong quá trình Kiểm sát viên tiến hành kiểm sát thủ tục bắt đầu phiên tòa, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa.
Tùy theo tình hình, diễn biễn cụ thể tại phiên tòa, Kiểm sát viên kết hợp giữa hoạt động tố tụng với việc trình chiếu tài liệu, chứng cứ để bảo đảm phù hợp, hiệu quả và thuyết phục.
Nội dung trình chiếu là các tài liệu, chứng cứ nêu tại mục 1 phần III Hướng dẫn này; Kiểm sát viên thực hiện trình chiếu toàn bộ hoặc nội dung chính có liên quan cần làm rõ.
Ngoài ra, về công bố và trình chiếu lời khai, lời trình bày, theo Hướng dẫn, Kiểm sát viên công bố và kết hợp với trình chiếu lời khai, lời trình bày trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử khi thuộc một trong các trường hợp:
Lời khai, lời trình bày của người được xét hỏi tại phiên tòa mâu thuẫn với lời khai, lời trình bày của họ hoặc người tham gia tố tụng khác trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử;
Người được xét hỏi không khai tại phiên tòa hoặc không nhớ những lời khai, lời trình bày của mình trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử;
Người được xét hỏi đề nghị công bố lời khai, lời trình bày của họ trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; người được xét hỏi vắng mặt hoặc đã chết.
Trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người dưới 18 tuổi, giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư của cá nhân, bí mật gia đình theo yêu cầu chính đáng của người tham gia tố tụng hoặc khi xét thấy cần thiết thì không công bố, không trình chiếu tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Xem toàn văn nội dung Hướng dẫn tại đây: hd21.pdf
P.V
6 giờ trước
25 phút trước
15 phút trước
8 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước