Việt Nam trước cơ hội trở thành trung tâm du học sinh quốc tế
Theo nghiên cứu của UNESCO, sự chênh lệch giữa học sinh Việt học tại nước ngoài và học sinh quốc tế học tập tại Việt Nam là 129.000 em, và cao hơn đáng kể so với khoảng 21.000 sinh viên quốc tế đến từ các nước láng giềng như Lào, Campuchia, Trung Quốc đang theo học tại Việt Nam.
Trước bối cảnh đó, Việt Nam mong muốn học hỏi thành công của Malaysia và Singapore, những quốc gia từng có mức thâm hụt sinh viên tương tự vào đầu những năm 2000 nhưng sau đó đã vươn lên trở thành các trung tâm giáo dục lớn tại châu Á.
Một báo cáo của Hội Đồng Anh ( The British Council ) cho rằng mục tiêu này hoàn toàn có thể đạt được
Trong báo cáo, tổ chức giáo dục Anh Quốc Education Insight đã điều tra khảo sát hơn 120 trường đại học Việt Nam, cùng với sự đóng góp của hơn 30 chuyên gia giáo dục quốc tế và Việt Nam để đánh giá toàn diện về mức độ hội nhập quốc tế của giáo dục Việt Nam
Bà Hoàng Vân Anh, trưởng bộ phận Giáo dục tại văn phòng Hội đồng Anh ở Hà Nội cho biết “Việt Nam vốn đã là điểm đến phổ biến đối với sinh viên đến từ các quốc gia lân cận như Lào, Campuchia và Trung Quốc, đồng thời nhấn mạnh gia tăng xu hướng du học trong nội khối Đông Nam Á”
Theo bà, đây là cơ hội để Việt Nam trở thành một trung tâm du học quốc tế. ua đó giải quyết tình trạng mất cân bằng kéo dài trong dịch chuyển sinh viên đồng thời vừa giữ chân sinh viên Việt Nam trong nước, vừa thu hút sinh viên quốc tế.
Chính sách thu hút sinh viên quốc tế và giữ chân du học sinh Việt
Trong bối cảnh ngày càng nhiều sinh viên du học nước ngoài, chủ yếu học tập tại các quốc gia như Mỹ, Anh và Úc, chính phủ Việt Nam bày tỏ những quan ngại về nguy cơ “chảy máu chất xám”

Ảnh mạng.
Để ứng phó với tình trạng này, Nguyễn Xuân Vang, nguyên Cục trưởng Cục Hợp tác Quốc tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, đồng thời là cựu Giám đốc Cơ quan Phát triển Giáo dục Quốc tế Việt Nam (VIED) cho biết “Chính phủ Việt Nam đã triển khai nhiều chính sách nhằm thu hút người học trở về đóng góp cho đất nước”
Theo ông, các chính sách này bao gồm học bổng du học có cam kết ràng buộc nhằm bảo đảm người học quay trở lại và đóng góp cho sự phát triển quốc gia. Bên cạnh đó, nhà nước cũng hỗ trợ kết nối việc làm và đưa ra các ưu đãi nhằm thu hút nhân tài.
“Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách nhằm thu hút người Việt Nam có tiềm năng ở nước ngoài cũng như chuyên gia quốc tế đến làm việc tại Việt Nam,” ông cho biết.
Ví dụ, các chính sách thị thực của Việt Nam hiện cho phép sinh viên quốc tế có cơ hội làm việc sau tốt nghiệp và được sinh sống cùng người thân, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc học tập và sinh sống dài hạn.
Ông Vang cho rằng sinh viên quốc tế đóng góp đáng kể cho tăng trưởng kinh tế của Việt Nam và nhấn mạnh rằng quá trình quốc tế hóa giáo dục là yếu tố cần thiết đối với sự phát triển quốc gia.
Hợp tác quốc tế giữa các trường đại học
Tại một sự kiện do Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Hội đồng Anh tổ chức tại Hà Nội vào ngày 26/9, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Văn Phúc cho biết
“Việt Nam mong muốn trở thành điểm đến hấp dẫn đối với sinh viên quốc tế, đồng thời khuyến khích các trường đại học nước ngoài thành lập phân hiệu tại Việt Nam và thúc đẩy các trường đại học trong nước tăng cường hợp tác với những cơ sở giáo dục uy tín trên thế giới để phát triển chương trình liên kết đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ”

Ảnh mạng.
Việt Nam hiện đang tiếp nhận 5.000 học sinh quốc tế theo học các chương trình toàn thời gian đến từ các quốc gia như Lào, Hàn Quốc, Singapore, Campuchia và Trung Quốc
3.900 sinh viên quốc tế chủ yếu từ Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, Philippines và Pháp theo học dạng ngắn hạn theo từng kỳ học
Ông Vang cho rằng đây là một bước tiến lớn so với trước đây, khi phần lớn các sinh viên quốc tế đến học tập tại Việt Nam do học bổng chính phủ. Hiện nay, số lượng du học sinh theo học dưới hình thức tự phát hoặc học bổng một phần đang gia tăng, một dấu hiệu tích cực trong việc thu hút sinh viên quốc tế.
Tuy nhiên phần lớn các du học sinh chỉ học tập trung tại 5 trường đại học trong tổng 242 trường toàn quốc, cho thấy chỉ một phần nhỏ các cơ sở giáo dục có tiềm năng thu hút người học quốc tế
Những thách thức trước mắt
Các cơ sở giáo dục quốc tế không phải là “liều thuốc vạn năng” cho quá trình quốc tế hóa giáo dục đại học tại Việt Nam. Vào tháng 8, cơ sở Hà Nội của Đại học RMIT thông báo tạm dừng tuyển sinh cho kỳ học mới do đã tiếp nhận đủ số lượng sinh viên.
Theo thông báo, trường sẽ không tiếp nhận hồ sơ mới cho các kỳ nhập học tháng 2 và tháng 6 năm 2025, đồng thời dự kiến mở lại tuyển sinh từ tháng 10/2025.
RMIT cho biết quyết định tạm dừng tuyển sinh nhằm “bảo đảm chất lượng học tập và cơ sở vật chất dành cho tất cả sinh viên”.

Ảnh mạng.
Thông báo này được đưa ra sau một cuộc làm việc gần đây với Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong đó Thứ trưởng Hoàng Minh Sơn cho biết nhà trường đã thảo luận về nhu cầu mở rộng không gian vận hành cũng như kế hoạch phát triển trong tương lai.
Theo các nguồn tin, việc mở rộng trong khu vực đô thị hiện gặp hạn chế do yêu cầu về diện tích được quy định trong Nghị định 86/2018 về đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục tại Việt Nam, theo đó mỗi sinh viên phải được bảo đảm tối thiểu 9m2 diện tích sử dụng.
Trong giới học thuật Việt Nam, quan điểm về việc các trường đại học nước ngoài mở phân hiệu và đưa đội ngũ giảng viên riêng vào giảng dạy vẫn còn nhiều tranh cãi
Tiến sĩ Vân Vũ cho biết giới học giả đang chia thành nhiều luồng ý kiến: một số xem đây là cơ hội thúc đẩy hợp tác và nâng cao chất lượng giáo dục, trong khi số khác coi đó là thách thức với hệ thống giáo dục trong nước.
Ông cũng cho rằng vẫn tồn tại nhiều cơ hội hợp tác giữa các trường quốc tế và đại học trong nước, đặc biệt thông qua việc mời các giảng viên Việt Nam có chuyên môn phù hợp, trình độ tiếng Anh tốt tham gia giảng dạy với vai trò giảng viên thỉnh giảng tại các cơ sở giáo dục quốc tế.
6 giờ trước
9 giờ trước
10 giờ trước
9 giờ trước
12 giờ trước
17 giờ trước
17 giờ trước