Việt Nam tham gia UNCCD COP17: Từ cam kết quốc tế đến nguồn tài chính xanh giúp phục hồi rừng
Theo Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tham gia UNCCD COP17, đoàn Việt Nam tiếp tục khẳng định cam kết của Việt Nam trong việc cùng cộng đồng quốc tế thúc đẩy phục hồi đất, chống suy thoái tài nguyên và tăng cường khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu.
Việt Nam đã triển khai nhiều chương trình phục hồi rừng
Việt Nam gia nhập UNCCD từ năm 1998. Trong gần ba thập kỷ qua, các cam kết quốc tế về chống sa mạc hóa và suy thoái đất ngày càng được lồng ghép sâu hơn vào chính sách lâm nghiệp, sử dụng đất, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển sinh kế. Điều này có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam chịu tác động đồng thời của hạn hán, xói mòn đất dốc, xâm nhập mặn, sạt lở và suy giảm chất lượng đất ở nhiều khu vực.
Trong cấu trúc ứng phó đó, rừng không chỉ là một hợp phần sinh thái, mà còn là “hạ tầng tự nhiên” giúp giữ nước, ổn định đất, giảm xói mòn, hạn chế sạt lở và điều hòa khí hậu. Trong tiến trình thực hiện các mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính, một giá trị khác của rừng ngày càng được lượng hóa rõ hơn: khả năng hấp thụ và lưu giữ carbon.
Những năm qua, Việt Nam đã triển khai nhiều chương trình phục hồi rừng, Đề án “Trồng 1 tỷ cây xanh” và Chiến lược phát triển lâm nghiệp; giữ vững tỷ lệ che phủ rừng ổn định ở mức trên 42%, tạo “lá chắn” sinh thái cốt lõi giúp giữ nước ngầm, chống sạt lở và ngăn chặn thoái hóa đất.
Việt Nam cũng triển khai các giải pháp lâm nghiệp thích ứng tại vùng khô hạn trọng điểm như: Tập trung phục hồi, mở rộng diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng hộ chắn cát bay ven biển tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ và bảo vệ đất dốc, chống xói mòn tại khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên.
Việt Nam cũng đã chuyển đổi sinh kế và nông lâm kết hợp bền vững như nhân rộng các mô hình canh tác nông - lâm kết hợp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu, thâm canh cây che phủ đất, phát triển cây dược liệu dưới tán rừng nhằm nâng cao thu nhập cho người dân đi đôi với nuôi dưỡng, bảo vệ đất.
Mặt khác, Việt Nam cũng tập trung hoàn thiện thể chế và cơ chế tài chính xanh. Trong đó đẩy mạnh thực thi chi trả dịch vụ môi trường rừng, tích hợp mục tiêu tự nguyện cân bằng suy thoái đất vào quy hoạch lâm nghiệp quốc gia và các kế hoạch hành động thích ứng với biến đổi khí hậu; ban hành Chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hóa giai đoạn đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050.
Khung pháp lý mang lại giá trị kép với người dân giữ rừng
Tuy nhiên, diện tích rừng lớn không đồng nghĩa với việc đương nhiên có một lượng tín chỉ các-bon để đưa ra thị trường. Chia sẻ tại Diễn đàn Carbon Việt Nam 2026: “Từ chính sách đến hành động”, ông Phạm Hồng Lượng, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm khẳng định, điều kiện đầu tiên để hình thành giá trị carbon từ rừng là phải xác định được lượng hấp thụ hoặc giảm phát thải.
Ông nhấn mạnh: “Muốn bán được carbon thì trước hết phải chứng minh được mình có bao nhiêu carbon”. Theo đó, ngành lâm nghiệp có lợi thế lớn khi đã duy trì hệ thống điều tra, kiểm kê, theo dõi và công bố hiện trạng, diễn biến rừng trong thời gian dài. Đây là nền tảng dữ liệu quan trọng để tính toán lượng giảm phát thải, sau đó đưa kết quả đi thẩm định, xác minh.
Nghị định số 180/2026/NĐ-CP ngày 21/5/2026 của Chính phủ về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, có hiệu lực từ ngày 15/7/2026, đã thiết lập khung pháp lý chuyên biệt cho lĩnh vực này. Nghị định điều chỉnh đối tượng, hình thức và mức chi trả; quản lý, sử dụng tiền dịch vụ; dự án carbon rừng; xác định kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon rừng được cung ứng.
Một nguyên tắc đáng chú ý là việc cung ứng, sử dụng dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng không được ảnh hưởng tới thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính mà Việt Nam tham gia. Giá trao đổi, chuyển nhượng kết quả giảm phát thải hoặc tín chỉ carbon có thể được xác định thông qua hợp đồng hoặc trên sàn giao dịch carbon theo quy định.
Khung pháp lý này cũng mở ra khả năng để chủ rừng hợp tác với nhà đầu tư, doanh nghiệp và các đơn vị trung gian trong xây dựng, đăng ký, đo đạc, thẩm định và triển khai dự án carbon rừng. Nhưng cùng với cơ hội là yêu cầu cao hơn về minh bạch dữ liệu, xác định quyền đối với kết quả giảm phát thải và chia sẻ lợi ích. Kết quả từ Thỏa thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ là một minh chứng rõ nét.
Trong kỳ báo cáo đầu tiên, Việt Nam đã chứng minh và được Ngân hàng Thế giới (WB) công nhận 16,2 triệu tấn CO₂ giảm phát thải. Từ kết quả này, Việt Nam thực hiện hai lần chuyển nhượng tổng cộng 11,3 triệu tấn, thu về 56,5 triệu USD. Cơ chế phân bổ nguồn thu được thiết kế dựa trên kinh nghiệm chi trả dịch vụ môi trường rừng; phần lớn nguồn tiền được đưa trở lại cho chủ rừng và các đối tượng hưởng lợi. Khoảng 80.000 chủ rừng đã được thụ hưởng, trong đó có khoảng 40.000 hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng. Qua đó, nguồn thu từ carbon rừng có thể trở thành một nguồn lực bổ sung quan trọng cho công tác bảo vệ rừng, phục hồi đất và phát triển sinh kế bền vững cho cộng đồng gắn bó với rừng.
Đỗ Trang
1 ngày trước
2 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
4 ngày trước
1 giờ trước
2 giờ trước
30 phút trước
48 phút trước
3 phút trước
3 phút trước
5 phút trước
6 phút trước
15 phút trước
23 phút trước
38 phút trước
39 phút trước
46 phút trước
50 phút trước