Việt Nam bàn cách đưa công nghệ sinh học thành động lực chiến lược
Bức tranh toàn cầu và vị trí khiêm tốn của công nghệ sinh học Việt Nam
Ngày 29.11, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Đại học Quốc gia TP.HCM và Tập đoàn CT Group tổ chức hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề “Chiến lược phát triển công nghệ sinh học giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045”.
Sự kiện thu hút hàng trăm đại biểu đến từ các bộ, ngành trung ương, địa phương, các viện trường, chuyên gia trong và ngoài nước cùng đại diện nhiều doanh nghiệp, tập đoàn công nghệ, cho thấy mức độ quan tâm ngày càng lớn đối với lĩnh vực được xem là “chìa khóa” của y tế, nông nghiệp, môi trường và công nghiệp trong tương lai.

Ông Huỳnh Thành Đạt, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương phát biểu tại hội thảo
Phát biểu khai mạc, GS.TS Nguyễn Thị Thanh Mai, Phó Giám đốc Đại học Quốc gia TP.HCM, cho biết nhà trường hiện có 175 tiến sĩ, 65 giáo sư và phó giáo sư hoạt động trong lĩnh vực công nghệ sinh học. Giai đoạn 2020-2025, ĐHQG TP.HCM đã đào tạo hơn 4.700 sinh viên bậc đại học, trên 1.200 thạc sĩ và 125 tiến sĩ trong lĩnh vực này. Cùng với đào tạo, số lượng và chất lượng công bố khoa học về công nghệ sinh học được ghi nhận tăng mạnh từ năm 2023, phản ánh nỗ lực nâng tầm nghiên cứu và hội nhập với chuẩn mực quốc tế.
Ở góc nhìn thị trường, GS.TS Nguyễn Thị Thanh Mai dẫn số liệu cho thấy quy mô thị trường công nghệ sinh học toàn cầu năm 2025 ước đạt khoảng 1.800 tỉ USD và dự kiến tăng gấp đôi vào năm 2030. Động lực tăng trưởng đến từ bước tiến của các nghiên cứu khoa học, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ chỉnh sửa gen, cùng nhu cầu ngày càng cao về giải pháp mới trong y tế, nông nghiệp, môi trường và nhiều ngành công nghiệp.
Trong bức tranh sôi động đó, quy mô thị trường công nghệ sinh học Việt Nam hiện mới khoảng 1,5 tỉ USD, chiếm chưa đến 0,1% toàn cầu. So với các nước trong khu vực, khoảng cách càng thể hiện rõ: quy mô thị trường công nghệ sinh học của Trung Quốc gấp Việt Nam 100 lần, Nhật Bản gấp 55 lần, Hàn Quốc gấp 28 lần và Ấn Độ gấp 25 lần.
Theo PGS.TS Nguyễn Phú Hùng, Vụ Khoa học kỹ thuật và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), công nghệ sinh học đang bước vào giai đoạn phát triển có tính chiến lược, trở thành một trong những động lực quan trọng cho tăng trưởng. Nhiều công nghệ lõi như chỉnh sửa gen CRISPR/Cas9, công nghệ tế bào, vắc xin thế hệ mới… đã được các viện nghiên cứu trong nước tiếp cận và bước đầu làm chủ, từng bước chuyển hóa thành ứng dụng trong sản xuất. Ở các lĩnh vực triển khai cụ thể, nông nghiệp là khu vực có bước đột phá rõ nét.
Đã có hơn 180 giống lúa và 53 loài dược liệu được xây dựng mã vạch DNA, tạo cơ sở khoa học cho việc bảo tồn, truy xuất nguồn gốc và phát triển sản phẩm. Nhiều mô hình ứng dụng công nghệ sinh học cho thấy hiệu quả kinh tế tăng thêm 15 - 20%. Một số mô hình sản xuất VietGAP và hữu cơ ứng dụng công nghệ sinh học đạt lợi nhuận 80 - 300 triệu đồng/ha mỗi năm, cho thấy tiềm năng đóng góp của công nghệ sinh học vào chuỗi giá trị nông nghiệp xanh.

Sinh viên Khoa Sinh học - Công nghệ sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TP.HCM tham quan Viện Tế bào gốc
Tuy vậy, PGS.TS Nguyễn Phú Hùng cũng chỉ ra loạt rào cản khiến công nghệ sinh học chưa bứt phá tương xứng tiềm năng. Nguồn lực đầu tư còn thấp so với yêu cầu, thiết bị nghiên cứu chủ yếu phải nhập khẩu với giá thành cao, làm gia tăng chi phí và kéo dài thời gian triển khai.
Không ít kết quả vẫn dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm, chưa được thương mại hóa rộng rãi. Nhân lực chất lượng cao còn thiếu và phân tán, trong khi cơ chế, chính sách mang tính đặc thù để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ sinh học chưa đủ mạnh. Bối cảnh này khiến yêu cầu xây dựng một chiến lược phát triển bài bản, dài hạn càng trở nên cấp thiết.
Gỡ điểm nghẽn, xây chiến lược 2026-2030 và tầm nhìn 2045
Từ thực tiễn nghiên cứu và đào tạo, PGS-TS Trương Hải Nhung, đại diện các nhóm nghiên cứu công nghệ sinh học của ĐHQG TP.HCM, cho biết nhà trường đang xây dựng chiến lược tái cấu trúc hoạt động nghiên cứu công nghệ sinh học theo bốn lĩnh vực cốt lõi.
Đó là y tế và sức khỏe; nông nghiệp và sản phẩm xanh; môi trường và phát triển bền vững; cùng tin sinh học và trí tuệ nhân tạo. Cách tiếp cận này vừa bám sát xu hướng thế giới, vừa phù hợp định hướng phát triển bền vững của Việt Nam, trong đó công nghệ sinh học không tách rời mà gắn chặt với chuyển đổi số, dữ liệu lớn và AI.
Để hiện thực hóa chiến lược, PGS-TS Trương Hải Nhung nhấn mạnh cần một cơ chế tài chính ổn định và đủ dài hơi, thay vì các khoản hỗ trợ manh mún, ngắn hạn. Cụ thể là kinh phí cho các dự án, đề tài kéo dài 3–5 năm, nguồn kinh phí hoạt động thường xuyên cho các nhóm nghiên cứu; hỗ trợ xây dựng cơ sở dữ liệu, các nền tảng AI và Immunoinformatics; kinh phí đăng ký sáng chế, quỹ học bổng sau đại học và cơ chế đãi ngộ xứng đáng cho nhà khoa học.
Song song đó là hành lang pháp lý cho thử nghiệm sinh vật biến đổi gen, thử nghiệm lâm sàng, tiêu chuẩn sinh phẩm, cũng như cơ chế kết nối để đưa sản phẩm từ phòng thí nghiệm ra thị trường, tạo chuỗi liên kết bền vững giữa viện, trường và doanh nghiệp.
Ở góc độ quản lý nhà nước, PGS-TS Nguyễn Hữu Ninh, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), cho rằng cần hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách đặc thù để tạo môi trường thuận lợi cho công nghệ sinh học.
Trong đó, ưu tiên thúc đẩy nghiên cứu và làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược; có chính sách đủ hấp dẫn để thu hút doanh nghiệp và nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước; đồng thời tăng cường đầu tư từ ngân sách, bảo đảm kinh phí ổn định cho các chương trình trọng điểm về công nghệ sinh học, thay vì trông chờ vào các nguồn tài trợ phân tán.

Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Trường Đại học Quốc tế (Đại học Quốc gia TP.HCM)
Phát biểu định hướng tại hội thảo, ông Huỳnh Thành Đạt, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, cho biết sự kiện được tổ chức trong bối cảnh cả nước đang triển khai sơ kết việc thực hiện Nghị quyết số 189/NQ-CP ngày 16.11.2023 của Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW ngày 30.1.2023 của Bộ Chính trị về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới.
Theo ông Huỳnh Thành Đạt, thực tiễn đặt ra yêu cầu phải làm rõ nhiều vấn đề then chốt, trước hết là thống nhất cách tiếp cận theo hướng lấy sản phẩm, thị trường và hệ thống tiêu chuẩn chất lượng làm trung tâm, từ đó rà soát và nhận diện đầy đủ những “điểm nghẽn” đang cản trở sự phát triển của ngành.
Trên cơ sở đó, giai đoạn 2026-2030 được định hướng triển khai các nhóm hành động trọng tâm theo hướng đồng bộ giữa ba trụ cột: làm chủ công nghệ lõi, hoàn thiện thể chế và phát triển nguồn lực. Cùng với đó là tiếp tục nâng cao vai trò, vị thế của ĐHQG TP.HCM như một trung tâm đào tạo và nghiên cứu lớn của cả nước trong lĩnh vực công nghệ sinh học, trở thành đầu mối kết nối giữa chính sách, khoa học và thị trường.
Những nội dung thảo luận, kiến nghị tại hội thảo được kỳ vọng sẽ góp phần xây dựng chiến lược phát triển công nghệ sinh học giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến 2045, với mục tiêu không chỉ thu hẹp khoảng cách với khu vực mà còn từng bước đưa công nghệ sinh học trở thành một trong những động lực chiến lược cho phát triển bền vững của Việt Nam.
Nguyễn Tuyết