🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Vì sao kinh tế châu Á chịu tác động mạnh từ xung đột ở Iran?

11 giờ trước
Bộ trưởng Ngoại giao Singapore Vivian Balakrishnan đã gọi việc đóng cửa eo biển Hormuz là một 'cuộc khủng hoảng của châu Á'.

Xung đột ở Trung Đông đã trở thành khủng hoảng kinh tế đối với châu Á. (Ảnh: AFP)

Việc eo biển Hormuz - một trong những điểm nghẽn năng lượng quan trọng nhất thế giới - bị đóng cửa đã làm gián đoạn nguồn cung nhiên liệu và đẩy giá tăng trên toàn khu vực.

Khoảng 20 triệu thùng dầu thô và sản phẩm dầu mỗi ngày, tương đương khoảng một phần tư lượng dầu vận chuyển bằng đường biển toàn cầu, đã đi qua eo biển này trong năm 2025. Khoảng 80% trong số đó được vận chuyển đến châu Á, theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA).

Điều này đồng nghĩa bất kỳ gián đoạn nào cũng sẽ ảnh hưởng nặng nề nhất đến các nền kinh tế nhập khẩu năng lượng, dù cách xa chiến trường hàng nghìn km.

Trong một cuộc phỏng vấn với Reuters, Bộ trưởng Vivian Balakrishnan mô tả tình hình này là “khủng hoảng của châu Á”. CNA giải thích lý do.

Vì sao gọi là "cuộc khủng hoảng của châu Á"?

Câu trả lời nằm ở việc năng lượng toàn cầu đang được vận chuyển đến đâu.

Eo biển Hormuz là tuyến hàng hải hẹp, ngăn cách bán đảo Ả Rập với Iran, nối vịnh Ba Tư với vịnh Oman và Biển Ả Rập.

Đây là tuyến xuất khẩu chính của dầu và khí đốt từ Ả Rập Xê-út, UAE, Kuwait, Qatar, Iraq, Bahrain và Iran. Do có rất ít lựa chọn thay thế, bất kỳ gián đoạn nào tại đây đều gây hậu quả lớn, theo IEA. Tuy nhiên, ảnh hưởng không phân bổ đồng đều.

Châu Á là điểm đến chính của dòng năng lượng này, với Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản nằm trong số các nước nhập khẩu lớn nhất. Điều này tạo ra sự lệch pha giữa nơi xung đột xảy ra và nơi chịu ảnh hưởng kinh tế. Ông Balakrishnan gọi đây là “sự bất đối xứng giữa yếu tố quân sự và yếu tố kinh tế”.

Ngoài dầu mỏ, gần 90% khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) xuất khẩu qua eo biển này cũng hướng tới thị trường châu Á, chiếm khoảng 27% tổng lượng LNG nhập khẩu của khu vực trong năm đó.

Bangladesh, Ấn Độ và Pakistan đã nhập gần hai phần ba lượng LNG của họ qua eo Hormuz trong năm 2025.

“Hầu hết các nước châu Á, đặc biệt là Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều nước Đông Nam Á, đều phụ thuộc lớn vào nhập khẩu dầu và khí từ Trung Đông”, ông Lawrence Anderson, chuyên gia cao cấp tại Trường Nghiên cứu Quốc tế S Rajaratnam (RSIS), Đại học Công nghệ Nanyang, cho biết.

Vì sao châu Á chịu ảnh hưởng lớn hơn Mỹ?

Một nguyên nhân chính là vị thế rất khác nhau của các nền kinh tế lớn trong hệ thống năng lượng toàn cầu.

Trong khi các nền kinh tế châu Á vẫn phụ thuộc nhiều vào dầu và khí nhập khẩu, Mỹ đã có sự thay đổi lớn trong thập kỷ qua.

Hiện Mỹ phụ thuộc vào eo biển Hormuz ít hơn nhiều so với châu Á. Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), Mỹ đã trở thành nước xuất khẩu năng lượng ròng hằng năm từ năm 2019. “Nhiều người vẫn chưa nhận ra: Năm 2016, Mỹ vượt Ả Rập Xê-út trở thành nước khai thác dầu lớn nhất; năm 2017 là nhà khai thác khí tự nhiên lớn nhất”, ông Balakrishnan nói.

“Đến năm 2019, Mỹ trở thành nước xuất khẩu năng lượng ròng - rất khác so với cách đây 5 thập kỷ”, ông nói thêm. “Các nước châu Á phụ thuộc vào dầu Trung Đông nhiều hơn rất nhiều so với Mỹ”, ông Anderson từ RSIS cho biết.

Ông tiếp tục: “Chẳng hạn, hơn một nửa lượng dầu của Ấn Độ và hai phần ba LNG nhập khẩu đến từ Trung Đông; với Trung Quốc là một nửa dầu và một phần ba LNG; Nhật Bản nhập khẩu 95% dầu và 11% LNG từ Trung Đông; còn Hàn Quốc là 70% dầu và 20% LNG”.

Eo biển Hormuz quan trọng với châu Á hơn các khu vực khác

Ngoài việc là khu vực nhập khẩu năng lượng ròng từ Trung Đông, việc eo biển Hormuz bị đóng cửa còn diễn ra đúng vào thời điểm không thuận lợi đối với châu Á.

“Điều này xảy ra khi châu Á đang kỳ vọng nền tảng ổn định hơn, củng cố tăng trưởng và phân bổ thành quả tăng trưởng đó đến nhiều người dân nhất có thể”, ông Balakrishnan nói. “Đây không phải là thời điểm thuận lợi. Đó là lý do khiến cả lo ngại kinh tế và chính trị cùng gia tăng”, ông lưu ý.

Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), châu Á hiện đóng góp hai phần ba tăng trưởng GDP toàn cầu và chiếm 40% thương mại thế giới.

“Dầu và khí là nguồn năng lượng cho các nền kinh tế châu Á tiêu thụ nhiều năng lượng và hoạt động khai thác, khiến họ rất dễ bị tổn thương trước gián đoạn nguồn cung từ Iran và các nước vùng Vịnh”, ông Anderson, cựu Đại sứ Singapore tại Campuchia, Ả Rập Xê-út và Bahrain, nhận định.

“Một mối lo khác là việc Iran đe dọa cắt các tuyến cáp năng lượng và cáp quang dưới biển ở vịnh Ba Tư”, ông nói thêm. “Nếu xảy ra, điều này sẽ gây gián đoạn nghiêm trọng đến kết nối internet quốc tế và dòng dữ liệu toàn cầu, đặc biệt là các hoạt động ngân hàng và tài chính giữa châu Âu và châu Á”, ông nói tiếp.

Cú sốc có thể lan rộng trong kinh tế châu Á như thế nào?

Ảnh hưởng của việc gián đoạn tại eo biển Hormuz không chỉ dừng lại ở việc giá dầu và khí tăng - yếu tố có thể nhanh chóng đẩy lạm phát lên cao.

Theo Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), khoảng một phần ba lượng phân bón vận chuyển bằng đường biển toàn cầu đã đi qua eo biển Hormuz trong năm 2024.

“Khi giá khí tăng, giá phân bón thường tăng. Khi giá dầu tăng, giá lương thực thường tăng”, cơ quan này cho biết. “Nhiều nước đang phát triển đã phải đối mặt với gánh nặng nợ cao, dư địa tài khóa hạn chế và khả năng tiếp cận tài chính bị thu hẹp”, cơ quan nói thêm.

Ông Anderson từ RSIS cảnh báo rằng doanh nghiệp và người dân sẽ phải đối mặt với giá cả tăng cao và có thể cả biến động tỷ giá, ảnh hưởng đến không chỉ thực phẩm, vận tải và các nhu yếu phẩm trong nước mà còn cả du lịch và đi lại đến các quốc gia châu Á và các khu vực khác. “Thị trường tài chính châu Á - cổ phiếu, trái phiếu và đầu tư - cũng sẽ bị ảnh hưởng, đặc biệt nếu khủng hoảng kéo dài nhiều tháng”, ông nói.

Tại Philippines, giá nhiên liệu tăng đã dẫn đến các cuộc biểu tình của người lao động ngành vận tải. “Nếu bạn là người đi mua xăng, bạn sẽ thấy giá tăng liên tục mỗi khi Philippines điều chỉnh giá hàng tuần”, ông Putra Adhiguna, Giám đốc điều hành Viện Energy Shift, cho biết. “98% lượng dầu thô nhập khẩu của Philippines đến từ Trung Đông”, ông nói thêm.

“Hiện nay, nhiều sản phẩm - chủ yếu là diesel và xăng - thường được nhập từ các nguồn khác như Trung Quốc”, ông nói với CNA Asia Now. "Nhưng chúng ta cũng thấy Trung Quốc hạn chế xuất khẩu nhiên liệu, điều đó có nghĩa là ảnh hưởng đang xảy ra từ cả hai phía đối với người dân Philippines”, ông bổ sung.

Mức độ ảnh hưởng đối với Singapore

Giống như phần lớn châu Á, Singapore phụ thuộc nhiều vào năng lượng nhập khẩu. Khoảng 95% điện năng của nước này được khai thác từ khí tự nhiên nhập khẩu, theo Cơ quan Thị trường Năng lượng (EMA).

“Chúng tôi có những đối tác rất đáng tin cậy tại các nước vùng Vịnh – họ luôn là những đối tác ổn định, uy tín trong suốt thời gian qua. Nhưng không phải do lỗi của họ, việc vận chuyển năng lượng đến Singapore hiện đã bị ảnh hưởng”, ông Balakrishnan nói. “May mắn là chúng tôi có các cảng LNG, nên có thể nhập khẩu từ thị trường toàn cầu. Và cũng may là chúng tôi có dư địa tài chính. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn phải trả theo giá quốc tế”, ông bổ sung.

Tuy vậy, ông cho biết các biện pháp này không thể bảo vệ Singapore khỏi ảnh hưởng lạm phát do giá năng lượng cao. “Đây là vấn đề mà chúng tôi sẽ phải xử lý trong nội bộ nền kinh tế, và rõ ràng cũng liên quan đến an sinh xã hội”, ông lưu ý.

Singapore cũng là một trung tâm hàng hải lớn, và ngành năng lượng - hóa chất là lĩnh vực khai thác lớn thứ hai của nước này, cả hai đều phụ thuộc nhiều vào môi trường bên ngoài. “Singapore là quốc gia không khai thác năng lượng và rất dễ bị tổn thương trước gián đoạn thương mại. Chúng tôi đối mặt với nguy cơ chi phí năng lượng tăng và đứt gãy chuỗi cung ứng ảnh hưởng đến doanh nghiệp, tiêu dùng và lạm phát”, ông Anderson nhận định.

“Chính phủ đã triển khai nhiều biện pháp để giảm ảnh hưởng. Tuy nhiên, phần lớn phụ thuộc vào việc eo biển Hormuz có sớm được mở lại an toàn cho tàu thuyền lưu thông hay không, cũng như việc chấm dứt xung đột”, ông kết luận.

Nh.Thạch

AFP

TIN LIÊN QUAN






























Home Icon VỀ TRANG CHỦ