🔍
Chuyên mục: Pháp luật

Vì sao bào chữa viên nhân dân 'cơ bản không hoạt động trên thực tế'?

2 giờ trước
Vai trò của bào chữa viên nhân dân trong tố tụng hình sự qua các giai đoạn là mờ nhạt, chưa được định danh cụ thể giống như Luật sư hay Trợ giúp viên pháp lý.
00:00
00:00

Vừa qua, tại phiên họp thứ ba của Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương (Ban Chỉ đạo), Chủ tịch nước Lương Cường, Trưởng Ban Chỉ đạo, cho biết chế định bào chữa viên nhân dân (BCVND) cơ bản không còn vận hành trên thực tế.

Nguyên dân là do chất lượng chuyên môn của đa số BCVND không cao, không được đào tạo chuyên sâu về các kỹ năng tranh tụng nên gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc khi hành nghề.

Bào chữa viên nhân dân là ai?

Ban Chỉ đạo cho biết chế định BCVND được quy định trong luật tố tụng hình sự, có tính lịch sử, chính trị - xã hội, gắn liền với hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận.

Đây là công cụ để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên tham gia giám sát, kiểm soát quyền lực đối với hoạt động tư pháp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp các hội viên trong tố tụng hình sự; giúp người bị buộc tội có thêm sự lựa chọn người bào chữa.

Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) 1988 chính thức ghi nhận chế định BCVND. Tại Điều 35 quy định BCVND là người bào chữa bên cạnh luật sư và người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo. BLTTHS 2003, BLTTHS 2015 tiếp tục kế thừa chế định này.

Các Luật sư, Trợ giúp viên pháp lý, Bào chữa viên nhân dân tham gia trợ giúp pháp lý lưu động tại tỉnh Hậu Giang cũ (nay là TP Cần Thơ). Ảnh: TT

Theo quy định tại khoản 2 Điều 72 BLTTHS 2015 thì người bào chữa có thể là BCVND.

Khoản 3 Điều 72 BLTTHS 2015 quy định: BCVND là công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, trung thành với tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, có kiến thức pháp lý, đủ sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc tổ chức thành viên của Mặt trận cử tham gia bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình.

BCVND tham gia tố tụng trong hai trường hợp. Thứ nhất, người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận từ huyện, quận, thị xã, TP thuộc tỉnh, TP thuộc TP trực thuộc Trung ương trở lên cử BCVND để bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình.

Thứ hai là cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải yêu cầu hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận cử BCVND bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình (trường hợp chỉ định người bào chữa).

Như vậy, quy định về BCVND đã có từ rất lâu nhưng cho đến nay, mới dừng lại ở việc ghi nhận trong luật, chưa có các văn bản dưới luật (nghị định, thông tư…) để hướng dẫn cụ thể.

Địa vị pháp lý còn mờ nhạt

Để hình dung rõ hơn về địa vị pháp lý của BCVND hiện nay, chúng ta có thể so sánh với hai chế định là Luật sư và Trợ giúp viên pháp lý.

Theo đó, Luật sư được điều chỉnh bằng Luật Luật sư, có chứng chỉ hành nghề và thẻ Luật sư do Liên đoàn Luật sư Việt Nam cấp. Trợ giúp viên pháp lý thì được điều chỉnh bằng Luật Trợ giúp pháp lý, có thẻ trợ giúp viên pháp lý do Bộ Tư pháp cấp, thực hiện nhiệm vụ trong các Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước. Còn BCVND được quy định duy nhất trong một vài điều luật của BLTTHS, hoạt động theo từng vụ việc.

Về tính chất hoạt động nghề, Luật sư hoạt động mang tính chuyên nghiệp, cung cấp dịch vụ pháp lý, có thể tham gia ở mọi vụ án, chịu sự quản lý của Đoàn Luật sư địa phương và Liên đoàn Luật sư về chuyên môn và đạo đức.

Còn Trợ giúp viên pháp lý hoạt động mang tính chất công vụ, được nhà nước hỗ trợ kinh phí, chịu sự giám sát của Bộ Tư pháp, hoạt động chuyên nghiệp ổn định lâu dài

Trong khi đó, BCVND hoạt động chủ yếu mang tính chất xã hội, không chuyên nghiệp, chưa có cơ chế giám sát chặt chẽ về chuyên môn, không phải chủ thể hoạt động chuyên nghiệp nên thiếu tính ổn định lâu dài.

Như vậy, có thể thấy trải qua một thời gian dài hình thành và phát triển, thế nhưng hiện nay chế định BCVND vẫn chưa nhận được sự quan tâm cần thiết của các cơ quan có thẩm quyền để phát huy hiệu quả và ý nghĩa như mong muốn, đòi hỏi phải có giải pháp để phát triển trong thời gian tới.

HỮU ĐĂNG












Home Icon VỀ TRANG CHỦ