Về Mai Hạ, say men rượu núi rừng

Với người dân Mai Hạ thì rượu cũng có linh hồn và mỗi giọt rượu đều thấm đủ vị đời.
Vị đời thấm trong từng giọt rượu
Quả thật, chỉ một chén rượu nhỏ thôi, tôi đã thấy mình như chạm vào một miền ký ức của núi rừng. Con đường vào “làng nghề rượu” Chiềng Hạ của xã Mai Hạ uốn lượn giữa thung lũng xanh mùa lúa đương thì con gái. Những mái nhà sàn thấp thoáng dưới tán rừng xanh mướt, khói bếp bảng lảng trong gió chiều. Mùi thơm của men rượu thoảng đâu đó trong không khí, dịu mà nồng như một lời mời gọi.

Ông Ngần Văn Hùng ở xóm Chiềng Hạ chia sẻ những câu chuyện về loại rượu đặc sản của đồng bào người Thái ở Mai Hạ.
Nhà ông Ngần Văn Hùng nằm ở cuối bản. Gian nhà sàn rộng, gọn gàng, góc bếp vẫn đỏ lửa. Chưa kịp ngồi ấm chỗ, ông Hùng đã cười hiền, mang ra một chum rượu, múc từng gáo nhỏ rót vào chén.
“Rượu Mai Hạ phải uống lúc trời lạnh mới thấm” - ông Hùng nói. Chén rượu trong vắt, ánh lên như nước suối. Nhấp một ngụm, vị cay nồng lan nơi đầu lưỡi, rồi chậm rãi chảy xuống cổ họng, để lại dư vị ngọt dịu nơi cuống họng. Cái ngọt ấy không gắt, mà êm như mật ong rừng. Tôi chợt nhớ đến câu thơ của cố nhà thơ Lò Cao Nhum mà người Thái vẫn nhắc khi nói về rượu Mai Hạ:
“Rượu nhà tôi
Có ngọt mật ong vách đá
Có chua măng ướp chum vò
Có cay của ghen
Có đắng của em chồng phải lòng chị dâu...”
Ông Hùng bật cười khi nghe tôi đọc lại mấy câu thơ ấy. Ông bảo, thơ của Lò Cao Nhum nói đúng cái hồn của rượu Mai Hạ. Bởi rượu ở đây không chỉ có vị của men mà còn mang đủ vị ngọt - cay - đắng của đời. “Đã uống thì uống vắt kiệt chum mà uống. Đã say thì say đổ tràn tình mà say” - ông Hùng đọc tiếp với chất giọng trầm của men.
Theo lời ông, nghề nấu rượu ở Mai Hạ có từ rất lâu, lâu đến mức chẳng ai nhớ chính xác bắt đầu từ bao giờ. Người già trong bản chỉ kể rằng từ thời ông bà tổ tiên, khi người Thái về lập bản bên dòng suối Xia này, họ đã biết làm men lá để nấu rượu. Ngày trước, rượu chỉ dùng trong lễ hội, cưới hỏi, cúng bản, cúng mường. Mỗi khi trong nhà có việc lớn, phụ nữ lại lên rừng hái lá, chuẩn bị men. Đàn ông lo nhóm lửa, chưng cất. Đến nay, nghề nấu rượu vẫn giữ nguyên những công đoạn cũ, như một nghi lễ của đời sống.
“Đã say thì đổ tràn tình mà say”
Ngồi bên bếp lửa, bà Vì Thị Tồn - vợ ông Hùng chậm rãi kể về bí quyết làm men. Bà đã gắn bó với nghề hơn 30 năm, từ khi còn là cô gái mới về làm dâu. “Men rượu Mai Hạ phải có hàng chục loại lá rừng” - bà Tồn nói. Những loại lá, rễ, cây nghe vừa quen vừa lạ: riềng dại, gừng rừng, nhòng nhạnh, cú đin, lá ổi, hồng bì, bưởi rừng... Tất cả được hái về, rửa sạch, phơi khô rồi giã nhỏ. Bột lá sau đó trộn với bột sắn khô, đậu tương và ngô đồ chín để nặn thành từng viên men. Men được ủ khoảng một tuần, rồi lại phơi nắng, cất giữ trên gác bếp để dùng dần. “Làm men phải khéo tay, nhưng quan trọng nhất là kinh nghiệm, thiếu một loại lá là vị rượu khác ngay” - bà Tồn chia sẻ.

Ngày nay, rượu Mai Hạ đã trở thành một sản phẩm OCOP đặc trưng của đồng bào dân tộc Thái.
Nguyên liệu nấu rượu cũng được chọn kỹ. Sắn phải là loại sắn phơi thật khô để giảm độc tố, đậu tương phải chắc hạt, nước nấu rượu lấy từ nguồn suối trong bản là thứ nước mát lành chảy ra từ lòng núi. Sau khi trộn men, cơm rượu được ủ khoảng 20 - 25 ngày. Khi men đã “chín”, người ta mới bắt đầu chưng cất bằng nồi được làm từ thân cây gỗ trên rừng.
Công việc tưởng đơn giản, nhưng lại đòi hỏi sự kiên nhẫn. Ngọn lửa phải vừa đủ để hơi rượu bốc lên đều, không quá mạnh cũng không quá yếu. Hơi rượu theo ống tre dẫn qua bầu nước lạnh, rồi nhỏ xuống từng giọt trong vắt, mỗi mẻ rượu kéo dài nhiều giờ. “Nhìn rượu nhỏ từng giọt cũng giống như nghe thời gian chảy”, ông Hùng nói. Rượu chuẩn vị của người Mai Hạ xưa thường đạt từ 400 đến 500 nhưng uống vào không gắt, vị cay nồng chỉ thoáng qua, rồi để lại hậu vị ngọt mềm.
Hiện nay, ở Mai Hạ có khoảng 45 hộ dân duy trì nghề nấu rượu, phần lớn tập trung ở xóm Chiềng Hạ - nơi đã được công nhận là “Làng nghề truyền thống”. Ông Hà Tuấn Hải - Phó Chủ tịch UBND xã Mai Hạ cho biết: "Rượu men lá không chỉ là một sản vật, mà còn là một phần bản sắc văn hóa của người Thái. Chúng tôi đang hướng tới xây dựng thương hiệu rượu Mai Hạ gắn với du lịch cộng đồng".
Du khách đến đây không chỉ uống rượu mà còn được xem cách làm men, cách chưng cất, được ngủ nhà sàn, ăn cơm lam, nghe khèn bè, nghe trống chiêng. Rượu vì thế trở thành cầu nối giữa du khách với văn hóa bản địa.

Ở xã Mai Hạ có khoảng 45 hộ dân duy trì nghề nấu rượu, chủ yếu tập trung ở xóm Chiềng Hạ.
Chiều muộn, sương bắt đầu tràn xuống thung lũng. Trong gian nhà sàn của ông Hùng, câu chuyện vẫn tiếp tục bên chén rượu. Chén rượu nâng lên, hương men lá dường như mang theo cả mùi đất ẩm, mùi lá rừng và khói bếp. Tôi chợt hiểu vì sao người Thái nói rượu Mai Hạ là “men của núi”. Bởi trong mỗi giọt rượu ấy có bóng dáng của rừng già, có công sức của những người phụ nữ cần mẫn, có ký ức của bản làng và cả những vui buồn của đời sống. Rượu không chỉ làm người ta say, mà nó khiến người ta nhớ.
Tôi rời Mai Hạ khi đêm đã xuống. Con đường bản chìm trong sương lạnh, nhưng trong cổ họng vẫn còn vương vị ngọt của thứ rượu men lá. Không biết mình say rượu hay say cái hồn của núi rừng nơi đây. Chỉ biết rằng, nếu có dịp quay lại Mai Hạ vào một dịp khác, tôi vẫn muốn ngồi bên bếp lửa nhà sàn, nâng chén rượu trong veo ấy để một lần nữa cảm nhận thứ men say rất riêng - men say của núi rừng.
Mạnh Hùng
44 phút trước
2 giờ trước
4 giờ trước
3 giờ trước
4 giờ trước
5 giờ trước
5 giờ trước
5 giờ trước
6 giờ trước
7 giờ trước
8 giờ trước
8 giờ trước
18 giờ trước