🔍
Chuyên mục: Du lịch

Văn nghệ Tuổi Hoa

1 giờ trước
Những năm gần đây, dịp cuối tháng 7, đầu tháng 8 là khoảng thời gian diễn ra trại sáng tác Văn học trẻ Thái Nguyên.Văn nghệ Thái Nguyên xin trân trọng gửi tới bạn đọc các tác phẩm tiêu biểu của học viên dự trại.

Những năm gần đây, dịp cuối tháng 7, đầu tháng 8 là khoảng thời gian diễn ra trại sáng tác Văn học trẻ Thái Nguyên. Để góp phần quảng bá cho hoạt động đầy ý nghĩa này cũng như minh chứng những thành tựu của hoạt động đó, trang Văn nghệ Tuổi Hoa của ấn phẩm Văn nghệ Thái Nguyên xin trân trọng gửi tới bạn đọc các tác phẩm tiêu biểu của học viên dự trại.

Mở đầu là truyện ngắn "Tiếng động dưới lòng hồ xanh" của bạn Nguyễn Đức Mạnh. Đức Mạnh là cây bút trẻ lần đầu dự trại sáng tác nhưng tác phẩm của bạn ấy đã phát đi những tín hiệu văn chương rất đáng mừng. Văn học mấy năm gần đây chứng kiến một xu hướng văn học chữa lành. Tức là con người tự tìm phương thuốc cho mình để xoa dịu những vết thương, kê bằng những chông chênh, có thêm nguồn động lực sống hữu ích. "Tiếng động dưới lòng hồ xanh" là một hành trình tự chữa lành tâm hồn bằng cách chủ động chấp nhận tổn thương, tìm lại sự cân bằng trong cuộc sống của một cô kỹ thuật viên âm thanh. Văn của Nguyễn Đức Mạnh có vẻ đẹp mềm mại, mang màu sắc liêu trai, khiến người ta dễ dàng tin hơn vào những điều diệu kỳ vẫn được giấu kín ở đâu đó, đang chờ chúng ta khám phá.

Tiếp theo là tản văn ngắn nhưng vô cùng xúc động của bạn Đỗ Uyên Linh viết về chiếc bàn giáo viên trong lớp học. Tình cờ làm chiếc khăn trải bàn tụt xuống. Cô học trò giật mình khi đối diện với mặt bàn nham nhở những vết xước sâu hoắm, những vết nứt nẻ, những lỗ mọt đục. Cô học trò đã nghĩ gì, đã liên tưởng về điều gì qua những hình ảnh ấy? Chỉ một bài viết ngắn, nhưng tin rằng, sẽ có nhiều người ngỡ ngàng rồi tiếc nuối vì tuổi học trò đã trôi qua nhanh đến nỗi mình chưa từng một lần nhìn thật kỹ chiếc bàn trên bục giảng của giáo viên.

Mục thơ của trang giới thiệu với bạn đọc một gương mặt quen thuộc nhưng thơ chưa bao giờ cũ. Dương Phương Hoa là một cây bút luôn khiến người đọc bất ngờ với những khám phá. Bài thơ "Tan vào xanh thẳm" là một khoảnh khắc con người run rẩy không cưỡng được trước màu xanh bình yên của cuộc sống. Chỉ muốn tan ra, trải đều, thấm đều lên vạn vật, giúp tất cả long lanh hơn, đẹp đẽ hơn. Và bài thơ "Xóm nhỏ Pác Ngòi" của Tô Hường. Với giọng thơ trong trẻo, giàu cảm xúc, tác giả khắc họa vẻ đẹp bình yên của bản Pác Ngòi bên hồ Ba Bể qua những hình ảnh mộc mạc, gần gũi, để lại dư vị nhẹ nhàng trong lòng người đọc.

Nhà văn Tống Ngọc Hân chọn và giới thiệu

Tiếng động dưới lòng hồ xanh

Truyện ngắn của Nguyễn Đức Mạnh

Trong phòng cách âm, Lam tháo chiếc tai nghe xuống lần thứ ba. Phía bên phải bàn mixer, những vạch tín hiệu của dải âm cao vẫn nhấp nháy đều đặn, nhưng tai phải của cô hoàn toàn trống rỗng. Lam tắt nhạc, thử gõ nhẹ ngón tay vào vành tai. Không có phản hồi. Cô vội vã mở một file hiệu ứng tiếng chim hót lẫn trong gió, thứ âm thanh cô đã thuộc lòng từng nốt cao để chèn vào phân cảnh kết của bộ phim quảng cáo, nhưng tuyệt nhiên không bắt được một tần số nào. Mọi âm thanh lọt vào tai phải lúc này chỉ là một tiếng ù đặc, đơn điệu như tiếng động cơ rỉ sét chạy hết công suất dưới đáy giếng sâu.

Minh họa Ngọc Khánh

Đến chiều, vị đạo diễn bước vào phòng studio. Ông chỉ tay vào màn hình, nói gì đó rất nhanh. Lam nhìn khẩu hình của ông, gật đầu một cách vô thức. Đến khi xuất file nháp, vị đạo diễn nhíu mày:  "Anh bảo em đẩy tiếng violin lên làm điểm nhấn, sao em lại cắt sạch thế này?".

Lam ngơ ngác nhìn ông, rồi nhìn xuống bàn tay đang run lên của mình. Cô không nghe nhầm, cô hoàn toàn không còn nghe thấy dải âm đó nữa. Giữa căn phòng nén chặt tạp âm của đô thị, Lam biết có một phần đời sống của mình vừa tắt. Ba ngày sau buổi khám ở bệnh viện với chẩn đoán tổn thương dây thần kinh thính giác do áp lực tiếng ồn tích tụ lâu ngày, cô thu dọn hành lý. Lam bỏ lại những cuộc gọi giục bản thảo, xách theo chiếc máy ghi âm, trốn chạy khỏi những tiếng còi xe inh ỏi đang băm vằm hệ thần kinh của mình mỗi ngày.

Cô tìm đến Ba Bể vào một chiều muộn. Sương mù từ những đỉnh núi đá vôi sà xuống, nuốt chửng những nếp nhà sàn ở bản Pác Ngòi. Đứng từ hiên nhà nhìn ra, Lam thấy hồ hiện lên như một phiến thạch khổng lồ nằm im lìm giữa đại ngàn. Lòng hồ tối sẫm, không một gợn sóng, bám chặt lấy chân những vách đá dựng đứng. Sự im lặng của không gian không làm Lam dễ chịu; ngược lại, nó khiến cô ngột ngạt vì sự tương phản với tiếng gầm gừ điên cuồng vẫn đang chạy ngầm trong đầu.

Sáng hôm sau, Lam ra bến xuồng khi trời còn chưa sáng rõ. Thay vì chọn những chiếc xuồng máy đang nổ bành bành chờ khách du lịch, cô bị thu hút bởi một người đàn ông nhỏ thó đang lẳng lặng vá lại một vết nứt nhỏ trên mạn chiếc thuyền độc mộc bằng nhựa cây già. Đó là cụ Sliến. Gương mặt cụ chằng chịt những nếp nhăn sâu, đôi mắt thẫm màu nhìn bộ thiết bị cồng kềnh trên tay Lam.

Cụ Sliến ngừng tay, khẽ nheo mắt hỏi: "Cháu muốn ra hồ?". Ngón tay Lam khẽ chạm vào dải băng đô mỏng quấn quanh tai: "Cụ cho cháu đi thuyền chèo tay nhé. Cháu không nghe được tiếng máy nổ. Đầu cháu đau lắm". Cụ già người Tày lặng im nhìn dải băng đô, rồi nhìn xuống làn nước xanh. Cụ không gặng hỏi thêm, chỉ đưa bàn tay gầy guộc đỡ lấy chiếc balo nặng trĩu đặt nhẹ nhàng vào lòng thuyền, khẽ khàng bảo: "Bước xuống đi cháu, bước nhẹ thôi. Hồ này nó nâng được hết, nặng mấy cũng nâng được".

Khi Lam bước xuống, mạn thuyền khẽ chao qua lắc lại, nhưng ngay khi mái chèo gỗ của cụ Sliến chạm xuống nước, con thuyền lập tức lấy lại sự thăng bằng, lướt đi êm ru, rạch đôi màn sương mù đang là là trên mặt nước.

Con thuyền lướt đi giữa hai bức tường đá vôi khổng lồ của vườn quốc gia. Tiếng mái chèo quạt vào nước khẽ khàng, khua… oạp… khua… oạp, đều đặn. Lam lấy chiếc máy ghi âm ra, thả đầu thu bọc cao su xuống lòng hồ, rồi đeo chiếc tai nghe chụp kín vào bên tai... trái còn lành lặn. Một thế giới khác hiện ra qua lớp đệm tai nghe. Qua thấu kính âm thanh của chiếc máy thu, Lam nghe thấy tiếng những hạt cát mịn bị dòng nước ngầm đẩy đi, tạo thành những vệt lạo xạo rất nhỏ. Có tiếng của những đàn cá mương nhỏ xíu rỉa vào thảm rêu bám trên vách đá ngầm, tạo ra những tiếng chách… chách giòn giã.

Cụ Sliến khẽ xoay mái chèo, đưa con thuyền áp sát vào một vách núi hẻo lánh, nơi có những gốc si cổ thụ buông những chùm rễ xù xì chìm trong nước. Cụ ngừng chèo, tay chỉ vào đám rễ mục, quay lại nói với Lam: "Cây si đang nói chuyện đấy."

Lam điều chỉnh thiết bị, hướng đầu thu về phía những chùm rễ. Bên tai trái của cô vang lên một chuỗi âm thanh trầm đục. Nó chậm rãi, đều đặn như có một nhịp sống rất sâu đang chuyển động. Tiếng nước len qua các hốc đá và kẽ rễ vỡ ra những tiếng tách… tách nhỏ bé dưới áp lực sâu.

Lam mím môi. Cô bật máy, điều chỉnh độ nhạy tối đa, cố ép tai phải của mình phải bắt được cái rung động ấy. Nhưng vô ích. Tai phải của cô từ chối tất cả, chỉ đáp trả bằng một làn sóng nhiễu vô nghĩa và nhức nhối. Sự nôn nóng biến thành sự tức giận. Lam giật phắt chiếc tai nghe ra khỏi đầu, ném mạnh nó xuống lòng thuyền. Chiếc tai nghe va vào gỗ tạo nên một tiếng cộc khô khốc. "Cháu không nghe thấy gì cả! Chẳng có cái gì nói chuyện hết!" - Lam nói to, giọng run lên, gần như hét vào khoảng không gian của lòng hồ.

Cụ Sliến không giật mình, cũng không quay lại nhìn cô. Cụ thản nhiên rút từ trong túi áo ra một bao thuốc lào, vê một viên nhỏ rồi bỏ vào điếu. Tiếng nước vỗ nhẹ vào mạn thuyền kêu bồm bộp như đang khỏa lấp đi cơn giận dữ bất lực của người con gái thành thị. Cụ rít một hơi thuốc, khói trắng bay ra phả vào màn sương, rồi cụ bảo: "Muốn nghe hồ thì mình cũng phải ít nói".

Lam ngẩn người nhìn làn khói thuốc tan nhanh trên mặt nước. Cô ngồi sụp xuống, hai tay ôm lấy đầu. Con thuyền lại tiếp tục lướt đi. Không ai nói với ai câu nào. Không gian chỉ còn lại tiếng mái chèo gỗ miết vào lòng nước, khua… oạp… khua… oạp, đều đặn và nhẫn nại. Từ phía hang Thẳm Phầy, những vệt mây xám bắt đầu quắn lại, ùn ùn kéo đến che khuất mặt trời. Gió rừng thổi tới tấp, bẻ gãy những cành củi khô trên vách đá, mặt hồ nổi sóng vỗ liên tiếp vào mạn thuyền.

Cụ Sliến nhìn trời, khua mái chèo dứt khoát: "Dông rừng đến nhanh lắm, không kịp về bến đâu. Ta nấp vào vách đá thôi!". Cụ chèo thuyền luồn dưới một mái đá vôi nhô ra tự nhiên của đảo Bà Góa, nơi được che chở bởi những tán cây thiết mộc lan bám rễ vào đá. Chỉ vài phút sau, trận mưa rào đổ ập xuống. Từ hốc đá nhìn ra, Lam chứng kiến những giọt mưa lao thẳng xuống mặt hồ, tạo nên một lớp sương mù trắng xóa bốc lên từ mặt nước. Tiếng mưa rơi rập rình trên những tán lá rậm rạp, tiếng nước gột rửa bụi bặm trên các vách đá xám xịt.

Cụ Sliến ngồi bó gối ở đầu thuyền, đưa ngón tay chai sần chỉ lên một nhành lan rừng nhỏ nhoi, không có lấy một vốc đất, chỉ bám vào một khe đá cằn cỗi trên vách đảo đang rung lên bần bật dưới làn mưa xối xả nhưng kiên quyết không buông rơi những nụ hoa màu tím nhạt. Cụ nhìn hoa, bảo: "Hoa này chỉ uống nước trời thôi". Rồi cụ im lặng, mắt nhìn đăm đăm vào màn mưa. Lam nhìn nhành lan bết nước, cơn giận dữ lúc nãy đã nguôi ngoai, chỉ còn lại một nỗi thất vọng sâu hoắm. Cô không buồn nhặt chiếc tai nghe dưới lòng thuyền lên nữa. Lam đứng sát ra rìa mái đá, để mặc cho những hạt mưa bụi bắn vào mặt lạnh ngắt. Cô đứng im, nhắm mắt lại, chấp nhận để tiếng mưa rừng bao bọc lấy cơ thể mình mà không đòi hỏi một sự phản hồi nào từ vết thương của bản thân. Lam bắt đầu không còn sốt ruột.

Đêm đó là đêm cuối cùng của Lam ở Ba Bể. Trời đêm cao và trong vắt, vầng trăng khuyết treo lơ lửng trên đỉnh núi, soi một vệt sáng bạc dài lấp lánh dọc theo lòng nước. Cụ Sliến đưa Lam ra giữa hồ vào lúc hai giờ sáng. Cụ mang theo một bọc ngô ngọt luộc sẵn, đặt ở góc thuyền, khói bốc lên thơm ngậy lẫn vào mùi sương đêm. Không gian tịch mịch. Không có tiếng côn trùng, không có gió, chỉ có con thuyền độc mộc lững lờ trôi như một chiếc lá giữa một vùng nước đen thẫm phản chiếu bầu trời sao. Lam ngồi ở giữa thuyền, chiếc máy ghi âm đặt bên cạnh đã tắt đèn màn hình từ lâu.

Lam tháo dải băng đô ở tai phải ra. Cô quỳ xuống lòng thuyền, từ từ áp sát tai phải vào mạn thuyền bằng gỗ đang tiếp xúc trực tiếp với nước hồ. Cô hít một hơi thật sâu, nhắm mắt lại. Tai phải của cô vẫn là tiếng ù đặc quen thuộc. Nó không biến mất. Nhưng Lam không còn đẩy nó ra nữa. Cô nằm im, để mặc tiếng ù ấy tồn tại như một phần của cơ thể mình, cùng nhịp với sự dịch chuyển khẽ khàng của con thuyền.

Một phút. Năm phút. Rồi mười phút trôi qua. Qua lớp gỗ dày sực mùi nhựa cây, tai phải của Lam không nghe lại được âm thanh nào rõ rệt, nhưng cô cảm nhận được một luồng rung động cực nhỏ. Một cái gì đó rất sâu dội lên từ lòng hồ – tiếng một dòng nước mát đang luồn qua các hang động ngầm để làm mới chính mình. Lớp gỗ thuyền truyền dẫn cái mạch đập thầm lặng ấy thẳng vào xương chũm sau tai cô. Khi cảm nhận rõ ràng sự chuyển động ấy, nước mắt Lam mới bắt đầu rơi, chậm rãi và lặng lẽ, thấm vào thớ gỗ của con thuyền.

Cụ Sliến nhai chậm rãi một hạt ngô ngọt, không ngoảnh lại nhìn cô gái, cụ chỉ khẽ gõ nhẹ mái chèo vào mạn thuyền như một thói quen gỡ rêu, rồi nói nhỏ vào màn đêm: "Đêm nay hồ yên!". Lam không trả lời, cô cứ áp má vào mạn thuyền như thế cho đến khi sương sớm làm ướt đẫm bả vai.

***

Lam trở lại thành phố vào một ngày mùa thu lất phất mưa. Gian phòng thu kỹ thuật số của cô vẫn bộn bề với những dây cáp và màn hình máy tính hiển thị những dải sóng âm dày đặc. Tai phải của cô vẫn ù, những bài kiểm tra thính lực ở bệnh viện vẫn cho ra một kết quả không mấy khả quan. Thiên nhiên không tạo ra phép màu nào để chữa khỏi hoàn toàn vết thương sinh học trong đầu cô. Nhưng Lam không còn sợ hãi hay cáu gắt với tiếng ù ấy nữa.

Buổi triển lãm tốt nghiệp cao học ngành Nghệ thuật âm thanh của trường diễn ra trong một không gian tối giản. Ở trung tâm căn phòng, Lam đặt một chiếc thuyền độc mộc cũ kỹ bằng gỗ – món quà cụ Sliến gửi xe khách xuống cho cô sau chuyến đi. Khán giả bước vào phòng, họ đeo những chiếc tai nghe cách âm và lắng nghe dải tần số âm thanh dài mười lăm phút mà Lam ghi lại được ở Ba Bể: tiếng lạo xạo của cát dưới đáy sâu, tiếng bọt khí tảo biển vỡ ra trong đêm, và cả những khoảng lặng dài không có tạp âm.

Vị giáo sư trưởng khoa tháo tai nghe ra. Ông đứng rất lâu bên cạnh chiếc thuyền độc mộc cũ kỹ, nhìn vào dải sóng âm tĩnh lặng hiển thị trên màn hình lớn. Khi Lam bước đến gần, ông nhìn cô học trò, nói đúng một câu: "Hóa ra khoảng lặng cũng có thể được ghi âm!". Ông đứng lặng rất lâu trước khi rời khỏi phòng. Khán phòng bắt đầu vãn người.

Lam mở cửa bước ra khỏi phòng triển lãm. Tiếng xe ngoài phố vẫn dội lên từng đợt. Cô để mặc tiếng ù tồn tại. Trên bệ cửa sổ có một chậu lan đá vừa nở. Cô đưa tay chạm vào cánh hoa.

Không hiểu sao, cô nhớ mặt hồ Ba Bể.

Nhìn

Tản văn của ĐỖ UYÊN LINH

Tôi là học sinh cuối cấp của một trường trung học. Trường tôi tọa lạc tại giữa lòng phố thị phồn hoa và náo nhiệt. Hằng ngày, cuộc sống của tôi chỉ quay quanh trường học - nhà - lớp học thêm. Những công việc quen thuộc cứ nối tiếp trong nhịp sống hối hả của thời đại trong đó có tôi. Ngỡ rằng những tháng năm đèn sách miệt mài sẽ chỉ trôi qua như thế. Nhưng ngày hôm ấy, là một ngày, chỉ bằng một phút chậm lại, tôi đã có một góc nhìn khác về cuộc đời.

Lớp học nào cũng có một chiếc bàn dành cho giáo viên trên bục giảng, tách biệt hoàn toàn với các dãy bàn học sinh. Khoác trên nó luôn là lớp khăn trải bàn với những gam màu trầm nổi, có khi là vài bông hoa nhí điểm trên nền màu lạnh, cũng có khi là những đường kẻ sọc ngang, đơn giản mà không đơn điệu, mỗi lớp sẽ lại mang một vẻ riêng. Trên mỗi chiếc bàn còn là những bình hoa, lọ hoa nhỏ, to vừa, tùy theo bố cục mà cân đối lại khiến cho tổng thể thêm trang nhã, chỉn chu và mang đầy sự tôn trọng với những người “gieo mầm xanh”. Nhìn chung, những chiếc bàn giáo viên đều rất đẹp, trang nhã, lịch sự trong con mắt của học sinh.

Minh họa Ngọc Khánh

Chiếc bàn giáo viên lớp tôi dài khoảng mười hai gang và rộng khoảng sáu gang so với tay của tôi. Phủ trên đó là tấm khăn trải bàn bằng vải có màu nâu ánh vàng, giống như màu lông của mấy con chuột lang. Những chiếc khăn quá rộng chúng tôi thường gấp làm đôi. Và vì thế mà ở phần góc cạnh rủ xuống, bị chừa ra một phần luôn chới với, bơ vơ giữa khoảng không, lên không được mà xuống cũng chẳng thành. Đặt trên đó là chiếc lọ hoa màu trắng ngà với chiếc cổ nhỏ nhắn nhưng phần thân phình ra. Chính vì lọ hoa màu trắng nên chúng tôi thường chọn những bông hồng nhung vừa rực rỡ vừa thanh lịch. Để chính chúng tôi thấy đẹp theo cách của chúng tôi là được.

Một hôm, trong lúc dọn dẹp lại lớp để chuẩn bị nghỉ lễ, tôi vô tình vấp chân vào phần thừa ra của chiếc khăn trải bàn. May mắn là mọi thứ trên bàn đã được dọn hết. Trong phút chốc, chiếc khăn trải bàn trượt xuống, phơi bày ra một cảnh tượng khiến tôi giật mình. Chiếc bàn hiện ra trần trụi, đơn sơ và lạ lẫm như thể chúng tôi chưa từng quen biết nó. Trên mặt bàn nham nhở những vết xước sâu hoắm, những vết nứt nẻ như trực chờ vỡ toang ra. Cảm giác của tôi là bề mặt gỗ đã từng trải qua những cảnh hỗn loạn và tàn khốc.

Giây phút ấy, không hiểu sao tôi thấy tim mình chậm lại một nhịp. Đầu tôi bắt đầu rối ren với những suy nghĩ. Chiếc bàn trông có vẻ trang trọng và đẹp đẽ mà chúng tôi vẫn nhìn thấy mỗi ngày kia, ai làm gì nó mà ra nông nỗi ấy? Chả nhẽ, những nhát thước gõ xuống mặt bàn của thầy cô mỗi khi chúng tôi lười học, chúng tôi mất trật tự, chúng tôi ngang bướng lại được ghi lại theo cách ấy. Chính mặt bàn đã thay chúng tôi hứng lấy mọi sự trừng phạt của thầy cô, mọi sự giận dữ của thầy cô khi chúng tôi chưa ngoan. Đúng rồi, thầy cô làm gì dám đánh chúng tôi chứ. Chỉ đánh chiếc bàn thôi. Đêm đến, khi chúng tôi đã về nhà và ngủ ngon, thì chiếc bàn lại bị bọn mọt tấn công, đục khoét. Rồi thì những gió mưa hắt vào khi chúng tôi quên khép cửa sổ. Nước mưa thấm vào gỗ, vào những vết nứt nẻ. Nên mới tang thương đến vậy. Mà chúng tôi, mỗi khi trực nhật, chỉ lau chùi qua loa rồi phủ khăn trải bàn lên là xong.

Vậy ra, bàn giáo viên là thứ giống như bảng đen, cửa sổ, bức tường... cứ lặng lẽ chứng kiến bao thế hệ học sinh trưởng thành và khôn lớn. Tận hiến những giá trị của bản thân để tạo nên những điều đẹp đẽ và đáng nhớ cho thời học sinh. Vậy mà, bây giờ, khi tôi đã vào năm cuối cấp rồi, sắp rời xa ngôi trường rồi, tôi mới nhìn kỹ chiếc bàn một lần. Những chiếc bàn học sinh liên tục được thay mới, để sách vở của chúng tôi được trải lên một cách phẳng phiu nhất, để chúng tôi viết dễ nhất, thậm chí gục xuống ngủ lịm đi vài phút trong giờ ra chơi cũng dễ nhất. Còn chiếc bàn của cô giáo tôi, bao giờ nó mới được nghỉ ngơi, tôi nào có biết.

Câu chuyện nhỏ bé ngày hôm ấy, đến hôm nay và những ngày sau nữa,  vẫn sẽ là một bài học nhắc nhở tôi về cách sống và cách nhìn nhận cuộc đời. Nếu chỉ nhìn mọi thứ từ vẻ bề ngoài, tôi sẽ không thấy được những vẻ đẹp của sự thật và ý nghĩa của nó. Cám ơn chiếc bàn luôn được trải khăn trong lớp học của tôi!

Dương Phương Hoa

Tan vào xanh thẳm

Đến một ngày tôi muốn tan ra...

thành hạt sương đọng trên phiến lá trà non buổi sớm,

thành sợi nắng hanh vàng nhuộm rực rỡ góc rừng già thơm hương đất ẩm,

thành ngọn gió vô ưu vuốt ve những đóa hoa dại không tên.

Yêu biết mấy cái màu xanh diệu kỳ cứu rỗi!

Khi tôi ôm một nhành cây, tôi thấy mình được chữa lành.

Không phán xét, không ồn ào, không vội vã lọc lừa,

Chỉ có sự bao dung của đại ngàn ôm lấy kẻ lữ hành đơn côi.

Kìa rễ cây cắm sâu vào lòng đất mẹ bao dung,

Kìa tán lá vươn cao kiêu hãnh đón mặt trời.

Tôi học cách làm một nhành cỏ dại,

Dẫu bão dông đi qua vẫn xanh mướt nụ cười.

Hãy để tôi nằm đây, giữa thảm rêu mềm mại,

Để linh hồn này hòa quyện với ngàn cây.

Bình yên ơi! Hóa ra chẳng ở đâu xa

Ngay dưới chân ta, trong bóng lá hao gầy...

Tô Hường

Xóm nhỏ Pác Ngòi

Những khu nhà sàn san sát

Mang dáng hình của núi

Cao thấp như trên mây

Hương hoa thơm lắt lí…

Nước hồ xanh mây trắng

In bóng ngôi nhà xinh

Cá bống nhỏ kín đáo

Nú vào bóng lều tranh…

Nhiều tác giả















Home Icon VỀ TRANG CHỦ