🔍
Chuyên mục: Pháp luật

Văn bản hợp nhất là căn cứ chính thức trong áp dụng pháp luật từ ngày 1-7

5 giờ trước
Ủy ban Thường vụ Quốc hội vừa ban hành Pháp lệnh số 01/2026/UBTVQH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật. Điểm mới căn bản của văn bản này là quy định rõ văn bản hợp nhất được cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng làm căn cứ chính thức trong viện dẫn và áp dụng pháp luật.

Người dân tra cứu văn bản pháp luật. Ảnh minh họa: Khánh Huy

Sử dụng và viện dẫn văn bản hợp nhất làm căn cứ chính thức

Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh số 01/2026/UBTVQH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật số 01/2012/UBTVQH13.

Theo khoản 3 Điều 1 của Pháp lệnh số 01/2026/UBTVQH16 (sửa đổi, bổ sung Điều 4), văn bản hợp nhất được cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng làm căn cứ chính thức trong viện dẫn và áp dụng pháp luật. Việc viện dẫn được thực hiện cụ thể:

Đối với luật, pháp lệnh: Ghi tên, số, ký hiệu của luật, pháp lệnh được sửa đổi, bổ sung và cụm từ được đặt trong dấu ngoặc đơn bao gồm “hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số” kèm theo số, ký hiệu của văn bản hợp nhất.

Đối với văn bản do cơ quan, người có thẩm quyền ở Trung ương ban hành (không thuộc trường hợp trên):Ghi tên loại, số, ký hiệu, tên gọi của văn bản được sửa đổi, bổ sung và cụm từ đặt trong dấu ngoặc đơn “hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số” kèm số, ký hiệu văn bản hợp nhất.

Đối với văn bản do cơ quan, người có thẩm quyền ở địa phương ban hành: Ghi tên loại, số, ký hiệu, cơ quan, người ban hành văn bản, tên gọi của văn bản được sửa đổi, bổ sung và cụm từ đặt trong dấu ngoặc đơn “hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số” kèm số, ký hiệu văn bản hợp nhất.

Trường hợp văn bản được sửa đổi, bổ sung tên gọi thì viện dẫn theo tên gọi đã được sửa đổi, bổ sung. Việc viện dẫn phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm phải nêu rõ số thứ tự của phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản hoặc thứ tự điểm trong văn bản hợp nhất.

Thẩm quyền ký xác thực và thời hạn thực hiện

Về thẩm quyền ký xác thực văn bản hợp nhất: Tổng Thư ký Quốc hội - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội ký xác thực văn bản do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành, văn bản do Ủy ban Thường vụ Quốc hội liên tịch ban hành. Người đứng đầu cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản được sửa đổi, bổ sung ký xác thực văn bản do Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành và văn bản do Chính phủ và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam liên tịch ban hành.

Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Tổng Kiểm toán nhà nước ký xác thực văn bản do mình ban hành, văn bản thuộc Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hoặc văn bản liên tịch do cơ quan mình chủ trì soạn thảo. Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp (cấp tỉnh, cấp xã) và chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính kinh tế - đặc biệt ký xác thực văn bản do mình hoặc cơ quan cùng cấp ban hành.

Về thời hạn ký xác thực, trường hợp văn bản sửa đổi, bổ sung có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành, văn bản hợp nhất phải ký xác thực trong thời hạn 15 ngày (đối với cơ quan cấp tỉnh, cấp xã, đơn vị hành chính kinh tế - đặc biệt là trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành). Đối với trường hợp văn bản sửa đổi, bổ sung có hiệu lực trong vòng 15 ngày (hoặc trong vòng 7 ngày đối với địa phương) kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành, văn bản hợp nhất phải được ký xác thực chậm nhất là ngày có hiệu lực của văn bản sửa đổi, bổ sung.

Từ ngày 1-7-2026, văn bản hợp nhất là căn cứ chính thức trong áp dụng pháp luật. Ảnh minh họa: Khánh Huy

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và điều khoản thi hành từ 1-7-2026

Pháp lệnh bổ sung trách nhiệm của cơ quan thực hiện hợp nhất văn bản và Bộ Tư pháp trong việc chủ trì nghiên cứu, ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động hợp nhất văn bản; bảo đảm dữ liệu được kết nối, chia sẻ và khai thác theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và yêu cầu về an toàn, an ninh và bảo vệ dữ liệu.

Người có thẩm quyền ký xác thực phải gửi văn bản hợp nhất ngay trong ngày ký đến cơ quan có trách nhiệm để đăng tải trên Công báo điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật (trong thời hạn 1 ngày làm việc kể từ ngày nhận), đồng thời đăng tải trên cổng/trang thông tin điện tử của các cơ quan (trừ nội dung bí mật nhà nước hoặc quy định không đăng tải công khai) để người dân khai thác miễn phí.

Pháp lệnh số 01/2026/UBTVQH16 có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2026. Văn bản này bãi bỏ khoản 1 Điều 3 và Phụ lục hướng dẫn kỹ thuật trình bày văn bản hợp nhất ban hành kèm theo Pháp lệnh số 01/2012/UBTVQH13, đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết về kỹ thuật trình bày văn bản hợp nhất.

Pháp lệnh quy định không thực hiện việc hợp nhất văn bản đối với văn bản được ban hành theo quy định tại Nghị quyết số 190/2025/QH15, Nghị quyết số 206/2025/QH15, văn bản được ban hành theo quy định tại khoản 1 và khoản 9 Điều 54 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 và các trường hợp khác quy định về thí điểm, cơ chế đặc thù, đặc biệt khác với văn bản hiện hành.

Đối với văn bản do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ở Trung ương ban hành đang còn hiệu lực thi hành kể từ thời điểm Pháp lệnh này có hiệu lực mà chưa thực hiện hợp nhất nhưng đã hết thời hạn hợp nhất quy định tại Pháp lệnh số 01/2012/UBTVQH13 thì thực hiện việc hợp nhất theo quy định tại Pháp lệnh này và được ký xác thực văn bản hợp nhất chậm nhất là ngày 30-9-2026.

Căn cứ điều kiện thực tế của địa phương, Thường trực Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định việc thực hiện hợp nhất theo quy định tại Pháp lệnh này đối với văn bản được ban hành trước ngày 1-7-2026 và đang còn hiệu lực thi hành.

Khánh Huy

TIN LIÊN QUAN





























Home Icon VỀ TRANG CHỦ