🔍
Chuyên mục: Xã hội

Ung thư gan vẫn là 'điểm nóng' y tế công cộng, cần chuyển mạnh từ điều trị muộn sang phát hiện sớm

3 giờ trước
Ung thư biểu mô tế bào gan hiện vẫn là một trong những thách thức y tế công cộng nghiêm trọng tại Việt Nam, với số ca mắc mới, tử vong ở mức cao. Các chuyên gia cho rằng, để thay đổi cần chuyển mạnh tư duy chính sách từ điều trị khi bệnh đã nặng' sang 'phòng ngừa, giám sát, phát hiện sớm' ngay từ cơ sở.
00:00
00:00

Tại Hà Nội, Bộ Y tế phối hợp với Liên minh Bệnh gan châu Á - Thái Bình Dương tổ chức Tọa đàm Chính sách Ung thư biểu mô tế bào gan Việt Nam 2026 dưới sự chủ trì của GS.TS Trần Văn Thuấn, Thứ trưởng Bộ Y tế - Chủ tịch Hội đồng Y khoa Quốc gia; Ts Roberta Sarno, Giám đốc Liên minh Bệnh gan Châu Á-Thái Bình Dương.

Tọa đàm diễn ra chiều 21/3 có sự tham dự của đại diện các cơ quan quản lý, tổ chức quốc tế, các bệnh viện lớn và hiệp hội chuyên ngành nhằm thảo luận giải pháp kiểm soát hiệu quả căn bệnh đang gây tử vong hàng đầu trong các loại ung thư tại Việt Nam.

GS.TS Trần Văn Thuấn, Thứ trưởng Bộ Y tế - Chủ tịch Hội đồng Y khoa Quốc gia phát biểu.

Phần lớn ca ung thư gan phát sinh trên nền viêm gan B, C, xơ gan và gan nhiễm mỡ

Phát biểu tại tọa đàm, Thứ trưởng Bộ Y tế Trần Văn Thuấn nhấn mạnh ung thư biểu mô tế bào gan (HCC – Hepatocellular carcinoma) là một trong những thách thức y tế công cộng nghiêm trọng nhất tại Việt Nam, với đặc điểm nổi bật là khoảng cách rất ngắn giữa chẩn đoán và tử vong. Điều này phản ánh tiên lượng bệnh khắc nghiệt và những hạn chế trong phát hiện sớm.

Tại Việt Nam, số ca tử vong gần tương đương số ca mắc mới (hơn 24.000 ca mắc và hơn 23.000 ca tử vong), cho thấy hiệu quả kiểm soát bệnh còn hạn chế và đòi hỏi sự thay đổi trong cách tiếp cận chính sách.

Thứ trưởng Trần Văn Thuấn nhấn mạnh ung thư gan không phải là bệnh đơn lẻ mà gắn với toàn bộ chuỗi hệ thống y tế, từ dự phòng, quản lý nguy cơ, phát hiện sớm đến chẩn đoán và điều trị. Phần lớn ca bệnh phát sinh trên nền viêm gan B, viêm gan C, xơ gan và bệnh gan nhiễm mỡ, do đó nếu chỉ can thiệp ở giai đoạn điều trị là đã bỏ lỡ cơ hội sống của người bệnh.

Vì vậy, chính sách can thiệp cần phải đi từ gốc đó là phát hiện sớm phải trở thành: nền tảng của chiến lược kiểm soát ung thư gan với các định hướng chính sách trọng tâm bao gồm: Xây dựng hệ thống giám sát nhóm nguy cơ cao: tầm soát định kỳ (ví dụ AFP, siêu âm mỗi 6 tháng); Chuẩn hóa hướng dẫn chuyên môn và tăng cường phối hợp liên chuyên khoa; Đảm bảo tiếp cận công bằng với: liệu pháp miễn dịch và thuốc nhắm trúng đích; Hoàn thiện cơ chế tài chính: mở rộng chi trả cho chẩn đoán, theo dõi và điều trị.

Thứ trưởng cũng chỉ đạo ba ưu tiên hành động: Thứ nhất, xây dựng khung giám sát ung thư gan cho nhóm nguy cơ cao; Thứ hai, chuẩn hóa quy trình chẩn đoán, điều trị và phối hợp hệ thống; Thứ ba, nghiên cứu cơ chế tài chính bền vững, đặc biệt BHYT;

Tại phiên báo cáo chính sách, TS.BS Nguyễn Trọng Khoa, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh, cho biết Việt Nam thuộc nhóm quốc gia có gánh nặng ung thư gan cao trên thế giới.

Tỷ lệ mắc chuẩn hóa theo tuổi của Việt Nam cao hơn rõ rệt so với mức trung bình toàn cầu và khu vực Đông Nam Á. Nguyên nhân chủ yếu vẫn là nhiễm viêm gan virus, trong đó tỷ lệ nhiễm HBV trong cộng đồng ước tính khoảng 7,2%, còn HCV dao động từ 1,0-1,8%. Bên cạnh đó, gan nhiễm mỡ do rối loạn chuyển hóa đang nổi lên như một yếu tố nguy cơ mới, báo hiệu gánh nặng ung thư gan có thể tiếp tục gia tăng trong thời gian tới.

Chuyên gia quốc tế trình bày tham luận tại tọa đàm

Hiệu quả điều trị ung thư gan phụ thuộc rất lớn vào thời điểm phát hiện bệnh

Một vấn đề được nhiều đại biểu thống nhất là phần lớn bệnh nhân ung thư gan tại Việt Nam vẫn được phát hiện ở giai đoạn muộn. Hơn một nửa số trường hợp đến viện khi bệnh đã ở giai đoạn tiến triển hoặc giai đoạn cuối, khiến khả năng điều trị triệt căn rất hạn chế.

PGS.TS.BS Phạm Cẩm Phương, Giám đốc Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai, cho biết chỉ khoảng 30-35% bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn sớm. Phần lớn người bệnh chỉ đi khám khi đã xuất hiện triệu chứng lâm sàng rõ ràng, khi đó thời gian sống trung vị thường dưới 1 năm.

Theo các chuyên gia lâm sàng, hiệu quả điều trị ung thư gan phụ thuộc rất lớn vào thời điểm phát hiện bệnh. Nếu được phát hiện ở giai đoạn sớm, bệnh nhân có nhiều cơ hội can thiệp bằng phẫu thuật, đốt u, nút mạch, hoặc các phương pháp điều trị khác với kết quả tốt hơn rõ rệt. Ngược lại, khi bệnh ở giai đoạn muộn, lựa chọn điều trị ít hơn, chi phí cao hơn và tiên lượng sống rất thấp.

Tọa đàm cũng chỉ ra nhiều "điểm nghẽn" của hệ thống trong kiểm soát ung thư gan. Trước hết là công tác giám sát, sàng lọc nhóm nguy cơ cao còn hạn chế và chưa đồng đều giữa các địa phương. Dù đã có khuyến cáo tầm soát định kỳ đối với người nhiễm viêm gan B, C, xơ gan hoặc các nhóm nguy cơ khác, song việc triển khai trong thực tế còn chưa rộng khắp. Nhiều nơi thiếu trang thiết bị, thiếu nhân lực chuyên môn, chất lượng xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh chưa đồng đều.

Một rào cản lớn khác là cơ chế tài chính. Nhiều đại biểu cho rằng BHYT hiện vẫn chưa bao phủ đầy đủ các dịch vụ sàng lọc, theo dõi và các thuốc điều trị mới. Một số xét nghiệm quan trọng như AFP chưa được thanh toán đầy đủ, trong khi nhiều thuốc điều trị đích, miễn dịch hoặc phác đồ mới còn khó tiếp cận do chi phí cao...

Ở góc độ dự phòng, các chuyên gia nhấn mạnh gốc rễ của bài toán ung thư gan nằm ở kiểm soát các yếu tố nguy cơ. GS.TS.BS Nguyễn Văn Kính cho rằng khoảng 90% ung thư gan có liên quan đến viêm gan B và C, vì vậy phát hiện sớm, quản lý và điều trị hiệu quả viêm gan virus phải được xem là giải pháp nền tảng. Cùng với đó là truyền thông thay đổi hành vi, giảm kỳ thị đối với người mắc viêm gan, nâng cao hiểu biết của cộng đồng về đường lây truyền, lợi ích của tiêm vắc xin viêm gan B, khám định kỳ và tầm soát ở nhóm nguy cơ cao.

Nhiều ý kiến tại tọa đàm cũng đề xuất xây dựng chương trình mục tiêu quốc gia về phòng, chống viêm gan và ung thư gan trong giai đoạn tới, nhằm tạo khung hành động thống nhất trên toàn quốc. Theo đó, cần chuẩn hóa hướng dẫn giám sát nhóm nguy cơ cao, sàng lọc định kỳ bằng siêu âm và các xét nghiệm phù hợp; tăng cường năng lực chẩn đoán tại tuyến tỉnh; xây dựng lộ trình chuyển tuyến rõ ràng giữa tuyến huyện, tỉnh và trung ương; đồng thời hoàn thiện cơ chế chi trả để người bệnh được tiếp cận công bằng hơn với dịch vụ chẩn đoán và điều trị.

Thứ trưởng Trần Văn Thuấn cùng các đại biểu tham dự tọa đàm.

ThS Trần Thị Trang, Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm y tế - Bộ Y tế và ThS Nguyễn Lan Hương, Phó Ban thực hiện Chính sách BHYT Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng cho rằng trong dài hạn, cần từng bước chuyển trọng tâm phân bổ nguồn lực từ "chi cho điều trị" sang "đầu tư cho phòng bệnh và phát hiện sớm". Việc thiết lập hệ thống dữ liệu, quản lý sức khỏe cá nhân theo vòng đời và theo dõi liên tục từ cộng đồng đến cơ sở y tế sẽ là nền tảng quan trọng để hoạch định chính sách chi trả hiệu quả và bền vững.

Thông điệp được nhấn mạnh tại tọa đàm là ung thư gan không phải căn bệnh "không thể thay đổi số phận". Nếu được phòng ngừa tốt, giám sát đúng nhóm nguy cơ và phát hiện ở giai đoạn sớm, nhiều người bệnh hoàn toàn có thể được điều trị hiệu quả, kéo dài sự sống và nâng cao chất lượng cuộc sống. Đó cũng là hướng đi mà hệ thống y tế Việt Nam cần quyết liệt thúc đẩy trong giai đoạn tới.

Thái Bình - Lê Hảo

TIN LIÊN QUAN





























Home Icon VỀ TRANG CHỦ