Từ thơ Sonnet đến thi kệ Phật giáo
Câu hỏi thật lạ, nhưng riêng từ sonnet thì lại… quen, quen đối với nhiều người có biết văn học lãng mạn Pháp, và cũng quen nếu ai đó nhớ ít nhất hai câu thơ sau đây:
Lòng ta chôn một khối tình
Tình trong giây phút mà thành thiên thu.
Đó là hai câu đầu trong bài thơ “Tình tuyệt vọng” của Khái Hưng, dịch từ Sonnet d’Arvers của nhà thơ Pháp Felix Arvers (1806–1850).
Bài thơ nguyên tác bằng tiếng Pháp thuộc thể thơ Sonnet, gồm 14 câu thơ, chia ra 4 khổ: 2 khổ đầu, mỗi khổ có 4 câu và 2 khổ sau, mỗi khổ có 3 câu. Về mặt từ nguyên, “sonnet” dẫn từ la-tinh “sonare” (“sonner”: reo vang, “son”: âm thanh). Sonnet là một loại thơ ca nho nhỏ như một giai điệu êm dịu.
Bài thơ Sonnet d’Arvers thuộc loại trứ danh trên thi đàn Pháp, trứ danh vì lãng mạn với mối tình chôn kín, vì lời thơ có vần điệu mượt mà, và cũng trứ danh vì nhà thơ chỉ có một bài – một bài danh tiếng để đời.
Nhà thơ Thế Lữ đã chuyển thể bài thơ qua tiếng Việt một cách tài tình, khiến nhiều người thuộc bài thơ dịch này, tuy rằng, có nhiều chỗ dịch không sát (dịch thơ mà!).
Để cụ thể hóa thơ Sonnet, đúng như thể thơ đề cập ở trên,tôi xin ghi nguyên văn bài thơ Sonnet d’Arvers, và sau đó là bài thơ dịch của Thế Lữ:
Sonnet d’Arvers
Mon âme a son secret, ma vie a son mystère,
Un amour éternel en un moment conçu :
Le mal est sans espoir, aussi j’ai dû le taire,
Et celle qui l’a fait n’en a jamais rien su.
Hélas ! j’aurai passé près d’elle inaperçu,
Toujours à ses côtés, et pourtant solitaire.
Et j’aurai jusqu’au bout fait mon temps sur la terre,
N’osant rien demander et n’ayant rien reçu.
Pour elle, quoique Dieu l’ait faite douce et tendre,
Elle ira son chemin, distraite et sans entendre
Ce murmure d’amour élevé sur ses pas.
À l’austère devoir pieusement fidèle,
Elle dira, lisant ces vers tout remplis d’elle
“Quelle est donc cette femme?” et ne comprendra pas.
Tình tuyệt vọng (Thế Lữ)
Lòng ta chôn một khối tình
Tình trong giây phút mà thành thiên thu
Tình tuyệt vọng nỗi thảm sầu
Mà người gieo thảm như hầu không hay.
Hỡi ơi người đó, ta đây
Sao ta thui thủi đêm ngày chiếc thân?
Dẫu ta đi trọn đường trần
Chuyện riêng đâu dám một lần hé môi.
Người dù ngọc thốt, hoa cười
Nhìn ta như thể nhìn người không quen,
Đường đời lặng lẽ bước tiên
Ngờ đâu chân đạp lên trên khối tình!
Một niềm tiết liệt, đoan trinh
Xem thơ nào biết là mình ở trong.
Lạnh lùng lòng sẽ hỏi lòng
Người đâu tả ở mấy dòng thơ đây!
Nhưng thôi, lãng mạn chỉ ngang đến đây để ta trở lại câu hỏi:
“Cho biết những ví dụ hay nhất trong những bài Sonnets Phật giáo”
Câu hỏi này chắc là do người có văn hóa phương Tây đặt ra, vì văn học Phật giáo không hề có thể thơ và khái niệm Sonnet. Nhưng phải chăng có một sự tương đồng nào đó?
Người trả lời câu hỏi này trên Diễn đàn Quora là Varsha Sathish Kumar, một copywriter (người chuyên viết bài tiếp thị) và travel planner (người lập kế hoạch du lịch), một blogger ở Singapore.
“Tôi muốn chỉ ra rằng phong cách viết Sonnet là một phong cách viết hoàn toàn của châu Âu. Nó chỉ được giới thiệu trong văn học Ấn/Á vào cuối thế kỷ XIX. Văn học Phật giáo truyền thống không sử dụng Sonnet trong các tác phẩm của mình”.
Thế nhưng câu hỏi này đã được giải đáp hào hứng, và có nhiều người trả lời, cho dầu không khẳng định hoàn toàn thể thơ Sonnet trong dẫn chứng.
Một vị giải đáp, Elle Wong (tự nhận khiêm tốn là hành giả Phật giáo) đã viết:
“Một trong những bài thơ hoặc khổ kinh Phật giáo hay nhất (mặc dù không hoàn toàn theo phong cách Sonnet) mà tôi thấy hấp dẫn là 62 khổ thơ trong “Phẩm Hạnh nguyện của Bồ-tát Phổ Hiền” dẫn trong kinh Hoa nghiêm, phẩm thứ 40.
Chuỗi bài kệ này không chỉ tóm tắt những thông điệp quan trọng của mười hạnh nguyện lớn của Bồ-tát Phổ Hiền), mà còn mang lại lợi ích sâu sắc và không thể nghĩ bàn cho bất kỳ ai muốn thực hành Phật giáo với mục đích đoạn trừ đau khổ trong đời này và chấm dứt vòng luân hồi sinh tử trong tương lai.
Người giải đáp Wolfgang Waas (hành thiền từ 50 năm nay) rất nhiệt tình, đã nêu nhiều dẫn chứng, toàn là những nhà thơ nổi tiếng.
Đầu tiên là Rainer Maria Rilke (1875–1926), nhà thơ và tiểu thuyết gia Áo với “Sonnets to Orpheus”. Mặc dù Rilke không phải là Phật tử, nhưng tập thơ “Sonnets to Orpheus” của ông phản ánh tính cách chiêm nghiệm và tâm linh, đồng điệu với các chủ đề Phật giáo.
Tiếp đến là Ryôkan (良寛, 1758–1831), một nhà sư Phật giáo và nhà thơ Nhật Bản thuộc dòng Thiền tông. Sư được biết đến với lối sống giản dị, gần gũi với thiên nhiên và những bài thơ thiền mang đậm dấu ấn cá nhân.
Một điều rất đặc biệt và cảm động: Wolfgang Waas đã tìm thấy và đã dịch ra tiếng Anh bài thi kệ của Thiền sư Liễu Quán.
During the seventy or more years
I have lived in this world,
Form and void have been the same always.
Today, after all vows are fulfilled,
I’m going to return home.
Don’t trouble yourself with questions
about schools and patriarchs.
Đây là thi kệ Thị tịch của ngài Liễu Quán:
Thất thập dư niên thế giới trung
Không không sắc sắc duyệt dung thông
Kim triêu nguyện mãn hoàn gia lý
Hà tất bôn man vấn Tổ tông.
Dịch ra tiếng Việt:
Hơn bảy mươi năm giữa cõi đời
Không không sắc sắc thảy dung thông
Sáng nay mãn nguyện về quê cũ
Nào phải bôn ba hỏi Tổ tông.
Trở lại với người giải đáp đầu tiên Varsha Sathish Kumar.
Ông đi thẳng vào thơ Phật giáo và chỉ đến bài thơ yêu thích nhất trong văn học Phật giáo từ thời Đức Phật, một khẳng định của một nền văn học Phật giáo khai sinh từ rất sớm.
“Những bài thơ yêu thích của tôi là bất kỳ câu thơ nào từ Theragatha (Trưởng lão Tăng kệ) và Therigatha (Trưởng lão Ni kệ). Những bài kệ được truyền miệng và sau đó được viết ra bằng tiếng Pāli vào khoảng năm 80 trước Tây lịch. Đó là những bài thơ truyền cảm hứng, viết từ thời Đức Phật trở đi. Các chủ đề thường là về sự giác ngộ và con đường đến giác ngộ. Một trong những bài thơ tôi thích nhất là của vị Ni Vimalā, người từng là gái làng chơi”.
Lời giải đáp đã đi xa, và thật khó để đối chiếu những dẫn chứng nói trên, và đặc biệt là những dẫn chứng từ những thi kệ trong văn học Phật giáo Nguyên thủy, với thể thơ Sonnet phương Tây, hơn nữa, chính thể thơ Sonnet cũng biến chuyển qua thời gian và xứ sở. Phải chăng sự đối chiếu là ở cái hồn của thơ Sonnet: Một thể thi ca nho nhỏ lãng mạn như một giai điệu êm dịu?
Lời giải đáp chỉ ngang đây, và cũng đủ thú vị để cho người viết bài này ghi thêm cho rõ.
Lai lịch của Vimalā và cơ duyên của bài thơ được ghi trong Trưởng lão Ni kệ:
“Trong thời Đức Phật hiện tiền, nàng được sanh ở Vesāli, làm con gái một người bán sắc đẹp sinh sống. Nàng được đặt tên là Vimalā. Khi nàng lớn lên, và suy tư với những tư tưởng uế nhiễm, nàng thấy Tôn giả Mahā Moggallāna (Mục Kiền Liên) đang đi khất thực ở Vesāli, nàng cảm thấy thương yêu tôn giả và đi theo về tinh xá để cám dỗ. Có người nói nàng được các ngoại đạo xúi giục nên làm như vậy. Tôn giả chỉ trích hành động không tốt của nàng và thuyết pháp cho nàng, như đã được ghi trong Trưởng lão Tăng kệ. (Therā. 1150-57), nàng cảm thấy xấu hổ và trở thành một tín nữ. Cuối cùng nàng xuất gia, tinh tấn tu tập, và không bao lâu chứng quả A-la-hán”.
Nghĩ đến chứng quả của mình, Vimalā phấn khởi nói lên bài kệ:
Say với làn da, vóc dáng, sắc đẹp và danh tiếng;
kiêu kỳ với tuổi trẻ,
Tôi xem thường những người phụ nữ khác.
Trang điểm cho thân này
Làm đẹp để mê hoặc những người đàn ông ngu ngốc,
Tôi đứng ở cửa nhà chứa:
Như thợ săn với cái bẫy giăng sẵn.
Tôi khoe đồ trang sức,
Hớ hênh nhiều phần riêng tư.
Tôi làm nhiều trò phép thuật,
cười lớn với đám đông.
Ngày nay, quấn trong tấm áo choàng đôi,
đầu trọc,
đi khất thực,
tôi ngồi dưới gốc cây
và đạt trạng thái vô tư.
Mọi ràng buộc - con người và thiêng liêng - đã bị cắt đứt.
Quăng đi mọi chất thải,
Thân tôi dịu mát,
được cởi trói.
Cuối năm 2025
Cao Huy Hóa/Báo Giác Ngộ
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
7 giờ trước
2 giờ trước
4 giờ trước
4 giờ trước