🔍
Chuyên mục: Công nghệ

Từ ngọn đèn dầu đến lưới điện thông minh - Bài 1: Một thời điện lưới chập chờn

1 giờ trước
Sau ngày đất nước thống nhất, TP Hồ Chí Minh bước vào hành trình tái thiết với muôn vàn khó khăn. Hệ thống điện lạc hậu, nguồn cung hạn chế trong khi nhu cầu sinh hoạt, sản xuất cần được bảo đảm khiến tình trạng thiếu điện kéo dài triền miên...

Ít ai hình dung, từ những năm tháng khó khăn ấy, ngành điện TP Hồ Chí Minh đã từng bước mở rộng nguồn cung, nâng cao năng lực vận hành, hiện đại hóa lưới điện thông minh, dữ liệu số và các trung tâm điều độ tiên tiến tầm khu vực, đưa dòng điện đến mọi vùng đất, góp phần vào tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế - xã hội thành phố.

Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Thành phố Sài Gòn - Gia Định chính thức mang tên TP Hồ Chí Minh (2/7/1976 - 2/7/2026), TTXVN thực hiện chùm 2 bài viết với chủ đề "Từ ngọn đèn dầu đến lưới điện thông minh", phản ánh hành trình chuyển mình của dòng điện cùng TP. Hồ Chí Minh trong 50 năm qua.

Bài 1: Một thời điện lưới chập chờn

Nửa thế kỷ trước, ở nhiều xóm lao động ven kênh rạch và vùng ngoại thành TP Hồ Chí Minh, ánh đèn dầu vẫn là nguồn sáng quen thuộc của hàng nghìn gia đình. Ở khu vực trung tâm thành phố, điện áp thường xuyên chập chờn, nhất là những buổi chiều tối, xen kẽ những đợt cúp điện kéo dài, từng là một phần ký ức của nhiều thế hệ người dân thành phố.

Công nhân điện lực kiểm tra, sửa chữa hệ thống điện đảm bảo vận hành an toàn và đáp ứng điện cho khách hàng. Ảnh: TTXVN phát

Ký ức khó quên

Trong căn nhà nhỏ nằm sâu trong con hẻm gần kênh Tàu Hủ, phường Rạch Ông, ông Nguyễn Văn Bảy (gần 80 tuổi) cẩn thận lấy từ chiếc tủ gỗ cũ một cây đèn dầu đã ngả màu theo thời gian. Với ông, đó không chỉ là vật dụng cũ mà còn là ký ức về những ngày thành phố thiếu điện năng. “Cây đèn này theo gia đình tôi từ những năm trước 1975. Hồi đó mất điện thường xuyên, cả xóm tối om, tụi nhỏ học bài dưới ánh đèn dầu cay xè mắt”, ông Bảy nhớ lại.

Thời điểm đó, thành phố không chỉ thiếu điện mà điện áp cũng rất chập chờn. Dù điện lưới 110 V nhưng vào giờ cao điểm, điện áp thường sụt giảm mạnh còn khoảng 70 - 80 V, khiến bóng đèn tròn chỉ còn mờ sáng. Hầu hết các gia đình đều dùng bình tăng áp và sau đó là ổn áp; một số cửa hàng có điều kiện trang bị máy phát điện loại nhỏ hoặc sử dụng đèn măng-xông để có ánh sáng phủ rộng hơn.

Trong ký ức của ông Bảy, điều đáng nhớ nhất là những khoảnh khắc điện được cấp trở lại sau nhiều giờ cắt điện. “Bởi khi ấy ai cũng tranh thủ nấu cơm, bơm nước. Nhà có tivi thì hàng xóm kéo sang xem cải lương, văn nghệ hay thời sự. Chỉ vài tiếng có điện thôi mà cả xóm nhộn nhịp hẳn lên”, ông Bảy kể.

Không chỉ ở khu vực nội thành, tình trạng thiếu điện còn phổ biến tại các vùng ven. Tại khu kinh tế mới Nhị Xuân (nay thuộc xã Xuân Thới Sơn), hoàn toàn không có điện. Đèn dầu vẫn là nguồn sáng chủ yếu của hàng trăm hộ gia đình sống ở đây.

Lập nghiệp ở vùng đất này từ những năm đầu khai khẩn (nay là đường Phan Văn Hớn), bà giáo Trần Thị Lài (gần 75 tuổi) cho biết: Lúc đó, mỗi gia đình thường có vài cây đèn dầu để sinh hoạt. Thời đó khó khăn lắm, xăng dầu mua bằng tem phiếu nên ai cũng phải tiết kiệm.

Không có điện, ít phương tiện giải trí nên người dân thường đi ngủ sớm. Chỉ những đêm trăng sáng, trẻ em tụ tập chơi kéo co, các trò chơi dân gian trên những đoạn đường nhựa vắng; người lớn quây quần trò chuyện rôm rả.

Thỉnh thoảng có đoàn chiếu phim lưu động đến phục vụ, nhiều người tranh thủ ăn cơm sớm rồi đi bộ cả cây số để xem. Tiếng máy phát điện nổ phành phành, tiếng băng phim chạy xè xè giữa không gian yên tĩnh, vậy mà ai cũng ngồi bệt xuống đất, mắt dán vào màn chiếu được căng bốn góc giữa hai cây tràm.

Trong ký ức của nhiều người dân thành phố, đó là giai đoạn khó khăn chung của đất nước sau ngày giải phóng, thống nhất đất nước. Nguồn điện khi ấy chủ yếu dựa vào Nhà máy Thủy điện Đa Nhim cùng các nhà máy nhiệt điện chạy dầu, với tổng công suất 812 MW và sản lượng điện khoảng 1,624 tỷ kWh.

Công trình thủy điện Đa Nhim nay thuộc Công ty Cổ phần Thủy điện Đa Nhim - Hàm Thuận - Đa Mi. Ảnh: Huy Hùng/TTXVN

Gắn bó với ngành điện từ năm 1978, ông Nguyễn Thành Duy, nguyên Giám đốc Công ty Điện lực TP Hồ Chí Minh (nay là Tổng công ty Điện lực TP Hồ Chí Minh - EVNHCMC), nhớ lại: Sau ngày tiếp quản, ngành điện phải vận hành một hệ thống cũ kỹ, thiếu đồng bộ và phụ thuộc nhiều vào nhiên liệu nhập khẩu. Khi đó, lưới truyền tải mới có hai cấp điện áp 230 kV, 66 kV và chủ yếu phục vụ khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn. Thiếu điện không chỉ ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt mà còn tạo áp lực lớn đối với sản xuất; nhiều nhà máy, xưởng cơ khí thường xuyên gián đoạn hoạt động do nguồn điện không ổn định.

Theo ông Duy, khó khăn lớn nhất của ngành điện lúc đó là vừa duy trì vận hành hệ thống hiện hữu, vừa sửa chữa và mở rộng lưới điện ra các vùng ngoại thành. Công nhân điện lực chủ yếu làm việc thủ công, trèo cột điện, đội mưa sửa chữa dưới ánh đèn pin… “Đến đầu những năm 1990, khu vực phía Tây thành phố vẫn còn thưa dân cư, nhiều tuyến đường nhỏ thiếu ánh sáng về đêm. Khi các khu chế xuất, khu công nghiệp lần lượt hình thành, những tuyến điện mới cũng được kéo đến, mở ra không gian phát triển hoàn toàn khác cho đô thị”, ông Duy chia sẻ.

Hàng loạt công trình nguồn điện và truyền tải quan trọng được đưa vào vận hành như: Thủy điện Trị An (400 MW), Thác Mơ (150 MW), Nhà máy điện Bà Rịa (200 MW) cùng đường dây 500 kV Bắc - Nam. Những dự án này góp phần gia tăng đáng kể nguồn cung điện cho khu vực phía Nam, giúp sản lượng điện tăng bình quân khoảng 12% mỗi năm, tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế của thành phố trong thời kỳ đổi mới.

Dòng điện mở đường cho phát triển

Khi các khu chế xuất, khu công nghiệp bắt đầu hình thành, nhu cầu điện tăng nhanh. Điện không còn chỉ phục vụ sinh hoạt mà đã trở thành điều kiện thiết yếu đối với hoạt động sản xuất. Có điện ổn định, doanh nghiệp mới mở rộng đầu tư; nhà máy mới duy trì được hoạt động liên tục.

Ông Nguyễn Khánh Thành, nguyên cán bộ Công ty Điện lực Phú Thọ (thuộc EVNHCMC), cho biết từ đầu những năm 1990, ngành điện thành phố tập trung đẩy mạnh cải tạo lưới điện nhằm giảm tình trạng cắt điện luân phiên.

Điện lúc đó không chỉ làm thay đổi hoạt động sản xuất mà còn góp phần thay đổi diện mạo đô thị, đời sống của người dân và hàng nghìn lao động từ nhiều địa phương khác đến thành phố tìm việc làm. Những khu nhà trọ cho công nhân mọc nhanh gần các khu chế xuất, khu công nghiệp; ánh đèn điện cũng dần thay thế đèn dầu ở nhiều vùng ven từng thiếu thốn và từng bước thay đổi cuộc sống trong từng hộ gia đình khi các thiết bị điện gia dụng ngày càng nhiều, cùng mạng internet, hệ thống chiếu sáng công cộng, bệnh viện, trường học…

“Nếu giao thông được ví như mạch máu thì điện chính là nhịp tim của đô thị hiện đại. Điện đi tới đâu, đô thị phát triển tới đó. Từ khu chế xuất, khu công nghiệp đến các khu đô thị mới, trung tâm thương mại, bệnh viện hay trường học đều cần hạ tầng điện đi trước một bước”, ông Thành chia sẻ.

Là một trong những công nhân đầu tiên làm việc tại Khu chế xuất Tân Thuận, bà Nguyễn Thị Minh Ngọc vẫn nhớ cảm giác háo hức khi bước chân vào nhà máy của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Nissey Việt Nam hơn 30 năm trước.

“Hồi đó có điện ổn định là doanh nghiệp mừng lắm. Có điện thì dây chuyền mới vận hành được, công nhân mới có việc làm. Dù cuộc sống còn nhiều khó khăn nhưng ai cũng tin tương lai sẽ tốt hơn”, bà Ngọc nói.

Bước vào đầu thế kỷ 21, tốc độ đô thị hóa nhanh cùng sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp đã khiến nhu cầu điện của thành phố tăng liên tục. Điện không chỉ phục vụ sinh hoạt; chương trình điện khí hóa nông thôn đã đưa điện quốc gia đến toàn bộ các huyện ngoại thành, đồng thời điện trở thành một trong những hạ tầng quan trọng nhất của nền kinh tế đô thị và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Ông Lê Văn Phước, nguyên Chủ tịch Hội đồng thành viên EVNHCMC, cho biết quy mô hệ thống điện thành phố thời điểm đó đã tăng gấp nhiều lần so với một thập niên trước. Công suất cực đại toàn thành phố đạt khoảng 600 MW, trong khi sản lượng điện thương phẩm đạt 2,8 tỷ kWh.

Theo ông Phước, từ việc đáp ứng tốt hơn nhu cầu điện cho phát triển kinh tế - xã hội của đầu tàu kinh tế cả nước, ngành điện thành phố tiếp tục hiện đại hóa hệ thống lưới điện và triển khai chương trình ngầm hóa trên nhiều tuyến đường trung tâm. Những bó dây điện chằng chịt từng bước được thay thế bằng hệ thống hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, góp phần chỉnh trang diện mạo đô thị.

Từ một đô thị từng chật vật vì thiếu điện, TP Hồ Chí Minh đã nhanh chóng chuyển mình cùng công cuộc đổi mới của đất nước để trở thành trung tâm kinh tế lớn với nhu cầu tiêu thụ điện thuộc nhóm cao nhất Việt Nam. Từ câu chuyện bảo đảm điện cho sản xuất đến xây dựng một thành phố văn minh, hiện đại, ở đâu cũng có dấu ấn của ngành điện.

Những ký ức ấy giờ đã lùi xa giữa một thành phố rực sáng ánh điện, với các bảng quảng cáo LED, những tòa nhà cao tầng, hệ thống giao thông hiện đại và các khu đô thị mới. Song, đối với nhiều người từng trải qua giai đoạn khó khăn sau ngày đất nước thống nhất, hình ảnh một thành phố còn thiếu điện vẫn là ký ức chưa thể phai mờ.

Nửa thế kỷ trôi qua, từ những đêm học bài dưới ánh đèn dầu đến những tuyến phố rực sáng hôm nay là hành trình đầy nỗ lực của nhiều thế hệ. Dòng điện không chỉ thắp sáng cho từng mái nhà, công xưởng mà còn góp phần thắp lên khát vọng phát triển của TP Hồ Chí Minh trên chặng đường đi lên cùng đất nước.

Từ ngọn đèn dầu đến lưới điện thông minh - Bài cuối: Đảm bảo năng lượng cho siêu đô thị

Thanh Vũ - Huỳnh Sơn (TTXVN)

TIN LIÊN QUAN














Home Icon VỀ TRANG CHỦ