Từ mời gọi đầu tư đến kiến tạo cụm ngành chiến lược

Cảng Cái Mép-Thị Vải Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: CTV)
Điều quan trọng hơn là lựa chọn được dòng vốn nào, nhà đầu tư nào và dự án đó có thể mang lại công nghệ, năng lực quản trị, giá trị gia tăng, cơ hội việc làm chất lượng cao cùng sức lan tỏa thực chất đến đâu đối với doanh nghiệp trong nước.
Đây là bước chuyển cần thiết khi Việt Nam đang đứng trước những thay đổi lớn của chuỗi cung ứng toàn cầu. Các tập đoàn quốc tế không chỉ tìm một nơi để đặt nhà máy với chi phí thấp. Họ cần một điểm đến có thể giúp dự án vận hành ổn định, mở rộng quy mô, duy trì chất lượng, kết nối với thị trường khu vực và giảm thiểu rủi ro trong dài hạn. Vì vậy, lựa chọn đầu tư luôn là câu chuyện hai chiều. Việt Nam cần những nhà đầu tư có trách nhiệm, có công nghệ và cam kết gắn bó lâu dài. Ngược lại, nhà đầu tư cũng cần nhìn thấy ở Việt Nam một môi trường đủ sức thuyết phục để họ đặt vốn, đặt nhà máy, đặt trung tâm nghiên cứu, bộ phận điều hành hoặc mắt xích quan trọng của chuỗi giá trị toàn cầu.
Điều nhà đầu tư quan tâm trước hết là khả năng kiểm soát tổng chi phí trong suốt vòng đời dự án. Ưu đãi thuế, giá thuê đất hay chi phí lao động vẫn có ý nghĩa, nhưng không còn là yếu tố quyết định duy nhất. Một dự án chỉ thật sự hiệu quả khi doanh nghiệp có thể dự báo được chi phí logistics, năng lượng, nguyên liệu, tuyển dụng, đào tạo nhân lực và các khoản phát sinh do thủ tục kéo dài, hạ tầng chậm kết nối hay vướng mắc về quy hoạch, xây dựng, hải quan. Trong cạnh tranh thu hút đầu tư hiện nay, doanh nghiệp không chỉ tìm nơi có giá thấp mà tìm nơi giúp họ kiểm soát được chi phí một cách dài hạn và có thể dự báo.
Cùng với chi phí là yêu cầu về chất lượng. Những ngành công nghệ cao, bán dẫn, thiết bị số, y sinh, trung tâm dữ liệu hay nghiên cứu phát triển không thể hoạt động hiệu quả nếu thiếu nguồn điện ổn định, nước đạt chuẩn, hạ tầng số tin cậy, dịch vụ kiểm định, đội ngũ kỹ sư và lao động kỹ thuật đáp ứng yêu cầu. Nhà đầu tư có thể mang theo công nghệ, dây chuyền và quy trình quản trị, nhưng không thể tự mình tạo ra toàn bộ hệ sinh thái cần thiết để duy trì chất lượng sản phẩm và uy tín trên thị trường toàn cầu.
Yếu tố thứ ba là sự ổn định. Nhà đầu tư cần một môi trường chính sách minh bạch, nhất quán và có khả năng dự báo. Họ cần biết các cam kết ban đầu có được tôn trọng hay không, quy định có được áp dụng thống nhất hay không, quy hoạch có thay đổi thiếu lộ trình hay không. Mỗi ngày chậm trễ trong thủ tục, mỗi lần phải đi lại giữa nhiều cơ quan, mỗi vướng mắc kéo dài về đất đai, điện, nước, xây dựng hay hải quan đều là chi phí thực và làm suy giảm niềm tin.
Nhưng điểm đáng chú ý nhất của Nghị quyết 10 không chỉ nằm ở yêu cầu chọn lọc dòng vốn. Nghị quyết đặt ra sự chuyển đổi từ tư duy thu hút đầu tư theo địa giới hành chính sang thu hút theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Điều đó có nghĩa là thay vì mỗi địa phương tự tìm nhà đầu tư bằng những ưu đãi riêng lẻ, Việt Nam cần tổ chức các không gian phát triển có đủ điều kiện để một ngành hay một chuỗi giá trị có thể hình thành, vận hành và lớn lên.

Sản xuất tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Công nghệ Coretronic Việt Nam - một trong những dự án công nghệ cao khu vực phía đông Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: CTV)
Cụm ngành không đơn thuần là một khu công nghiệp tập trung nhiều doanh nghiệp cùng lĩnh vực. Đó phải là nơi có doanh nghiệp dẫn dắt, mạng lưới nhà cung ứng, viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp logistics, tổ chức tài chính, hạ tầng số, dịch vụ công và cơ chế phối hợp đủ chặt chẽ để tạo ra lợi thế mà từng doanh nghiệp riêng lẻ không thể có được. Một cụm ngành càng hoàn chỉnh thì nhà đầu tư càng ít phải bắt đầu lại từ đầu, doanh nghiệp Việt Nam càng có nhiều cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.
Từ các lĩnh vực ưu tiên được Nghị quyết xác định, Việt Nam có thể hình thành sáu cụm ngành chiến lược để thu hút FDI thế hệ mới. Đây không phải là sự phân chia cứng theo địa phương, mà là định hướng tổ chức không gian đầu tư dựa trên lợi thế vị trí, hạ tầng, nhân lực, liên kết vùng và năng lực phát triển của từng khu vực.
Trước hết là cụm điện tử, chip bán dẫn và thiết bị số. Đây không nên chỉ là nơi lắp ráp sản phẩm cuối cùng, mà cần hướng đến một hệ sinh thái gồm thiết kế, thử nghiệm, đóng gói, kiểm định, sản xuất linh kiện, tự động hóa công nghiệp, đào tạo kỹ sư và phát triển doanh nghiệp hỗ trợ. Muốn thu hút được những dự án có giá trị cao, Việt Nam phải bảo đảm nguồn điện ổn định, hạ tầng kỹ thuật đạt chuẩn, nguồn nhân lực chuyên sâu và cơ chế kết nối hiệu quả giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp nội địa.
Cụm thứ hai là trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, Internet vạn vật và các nền tảng số. Đây là lĩnh vực không đòi hỏi nhiều đất như công nghiệp truyền thống, nhưng đòi hỏi rất cao về hạ tầng dữ liệu, năng lực tính toán, an ninh mạng, nguồn nhân lực công nghệ và hành lang pháp lý. Nếu được tổ chức tốt, cụm này không chỉ thu hút các trung tâm dữ liệu hay doanh nghiệp phần mềm, mà còn có thể kéo theo các trung tâm nghiên cứu, trung tâm điều hành, dịch vụ dùng chung và những hoạt động có giá trị gia tăng cao hơn.
Cụm thứ ba là công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến. Việt Nam có nhu cầu lớn về thuốc, thiết bị y tế, công nghệ chẩn đoán, thực phẩm chức năng, nông nghiệp công nghệ cao và chăm sóc sức khỏe. Song để thu hút được dòng vốn chất lượng trong lĩnh vực này, cần hình thành hệ sinh thái nghiên cứu, thử nghiệm, kiểm định, sản xuất, bảo quản, phân phối và đào tạo nhân lực chuyên ngành. Khi các điều kiện đó được kết nối đồng bộ, Việt Nam có thể chuyển dần từ thị trường tiêu thụ thành một trung tâm nghiên cứu, sản xuất và cung ứng cho khu vực.
Cụm thứ tư là công nghệ năng lượng, vật liệu tiên tiến và công nghiệp xanh. Trong bối cảnh các tiêu chuẩn về giảm phát thải, sử dụng năng lượng sạch và truy xuất nguồn gốc ngày càng khắt khe, đây không chỉ là lĩnh vực đầu tư mới mà còn là điều kiện để nhiều ngành công nghiệp khác duy trì khả năng cạnh tranh. Cụm này cần gắn với năng lượng tái tạo, lưu trữ năng lượng, vật liệu mới, thiết bị tiết kiệm năng lượng, tái chế, kinh tế tuần hoàn và các giải pháp giảm phát thải trong sản xuất.

Sản xuất Nhôm kính tại một nhà máy trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. (Ảnh: Tùng Quang)
Cụm thứ năm là logistics hiện đại và dịch vụ chuỗi cung ứng. Một nền công nghiệp mạnh không thể dựa vào những tuyến vận tải rời rạc, cảng biển thiếu kết nối hay chi phí thông quan còn cao. Cụm logistics cần được tổ chức quanh các đầu mối giao thông lớn, gắn với cảng biển, sân bay, đường bộ cao tốc, đường sắt, kho bãi, trung tâm phân phối, hải quan số và các dịch vụ vận hành chuỗi cung ứng. Đây là cụm ngành có vai trò nâng sức cạnh tranh cho toàn bộ nền kinh tế, chứ không chỉ cho riêng doanh nghiệp logistics.
Cụm thứ sáu là tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo và các dịch vụ giá trị gia tăng cao. Một tập đoàn toàn cầu khi đặt cơ sở tại Việt Nam không chỉ cần nhà máy mà còn cần trung tâm điều hành, trung tâm mua sắm, trung tâm ngân quỹ, dịch vụ pháp lý, tư vấn, tài chính, bảo hiểm, kiểm toán, thiết kế và các dịch vụ dùng chung. Nếu tổ chức được hệ sinh thái dịch vụ hiện đại, Việt Nam sẽ có cơ hội thu hút không chỉ vốn đầu tư trực tiếp mà cả các bộ phận điều hành khu vực và dòng vốn tài chính quốc tế.
Sáu cụm ngành trên không có nghĩa mỗi vùng chỉ làm một việc. Một địa phương có thể tham gia vào nhiều cụm khác nhau, tùy vào lợi thế thực tế. Có nơi phát triển sản xuất lõi, nơi làm nhà cung ứng, nơi đào tạo nhân lực, nơi cung cấp dịch vụ logistics, nơi đảm nhiệm nghiên cứu, dữ liệu hoặc tài chính. Điều quan trọng là các địa phương không cạnh tranh bằng cách hạ thấp tiêu chuẩn hoặc tạo ra mặt bằng ưu đãi thấp, mà cùng liên kết để hoàn thiện một hệ sinh thái có sức hấp dẫn chung.
Từ đó, cách tiếp cận thu hút FDI cũng cần thay đổi. Không nên bắt đầu bằng câu hỏi địa phương còn bao nhiêu đất công nghiệp hay có thể giảm thuế đến đâu. Câu hỏi cần đặt ra là cụm ngành ấy đang thiếu mắt xích nào, doanh nghiệp trong nước có thể tham gia ở công đoạn nào, nguồn nhân lực cần được đào tạo ra sao, hạ tầng nào phải được đầu tư trước và cơ chế phối hợp nào cần được thiết kế để dự án không bị ách tắc khi triển khai. Đây cũng là điều kiện để giữ chân nhà đầu tư. Một tập đoàn có thể đến vì ưu đãi, nhưng chỉ mở rộng đầu tư khi nhìn thấy môi trường kinh doanh có thể dự báo, doanh nghiệp nội địa có khả năng hợp tác, nhân lực có thể đáp ứng yêu cầu và hạ tầng đủ sức theo kịp sự phát triển của dự án.
Nghị quyết 10 đặt mục tiêu nâng chất lượng khu vực FDI bằng liên kết, chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung ứng trong nước và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Vì vậy, doanh nghiệp Việt Nam không thể chỉ đứng ngoài quan sát những chuỗi sản xuất đang vận hành trên đất nước mình. Chính sách thu hút đầu tư phải đi cùng chính sách nâng cấp doanh nghiệp nội địa về quản trị, công nghệ, tiêu chuẩn, tài chính, môi trường và năng lực đáp ứng đơn hàng.
Việt Nam cần dòng vốn chất lượng cao. Nhưng muốn dòng vốn ấy lựa chọn và gắn bó lâu dài, Việt Nam phải chứng minh được chất lượng phát triển tương xứng. Đó mới là ý nghĩa sâu xa của việc chuyển từ thu hút FDI theo địa giới hành chính sang phát triển các cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Việt Nam không chỉ mời gọi vốn đến, mà phải tạo được môi trường để vốn tốt có thể bén rễ, lan tỏa và trở thành một phần của năng lực nội sinh quốc gia.
THS. NGUYỄN TUẤN ANH-THS. VŨ THỊ QUÝ ThS. Nguyễn Tuấn Anh (Tổng Công ty Công nghiệp Sài Gòn-TNHH MTV) - ThS. Vũ Thị Quý (Khoa Kinh tế, xã hội và môi trường - Học viện Chính trị khu vực II)
2 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
3 ngày trước
5 ngày trước
7 ngày trước
8 ngày trước
16 ngày trước
16 ngày trước
17 ngày trước
16 phút trước
1 phút trước
5 giờ trước
Vừa xong
2 phút trước
7 phút trước
17 phút trước