Từ các vị quỷ thần trong kinh Trường A-hàm đến chư thiên và dạ-xoa trong kinh Tương Ưng bộ
Đây là một trong những lời dạy sau cùng của Đức Thế Tôn, gọi là Tứ đại giáo pháp (cattāro mahāpadesā), được hiểu như là bốn cơ sở tham chiếu lớn ghi lại trong kinh Đại Bát-niết-bàn (Mahāparinibbāna Sutta).
Bởi lẽ, nội dung và cả ý nghĩa của những giáo pháp mà Đức Thế Tôn dạy nhiều như lá trong rừng. Nếu như chúng ta chỉ tiếp cận một khía cạnh, một vấn đề trong giáo pháp của Đức Thế Tôn rồi nảy sinh nghi ngờ và ôm chặt hoài nghi ấy thì tự mình ngăn trở con đường giác ngộ.
Ở đây, khi tiếp cận một đoạn kinh trong Trường A-hàm, đã có nhiều người nảy sinh nghi ngờ về câu kinh ấy và xem đó dường như không phải là lời dạy của chính Đức Phật. Nguyên văn đoạn kinh ấy như sau:
Đức Phật bảo Tỳ-kheo:
- Tất cả nhà cửa của dân chúng đều có quỷ thần cư ngụ, không chỗ nào là không có. Tất cả đường sá, ngõ hẻm, ngã tư, hàng thịt, chợ quán cho đến bãi tha ma cũng đều có quỷ thần cư ngụ, không chỗ nào là không có. Các loại quỷ thần đều được đặt tên tùy theo chỗ họ cư ngụ. Nếu vị thần đó nương tựa người thì gọi thần cõi người, nương tựa thôn thì gọi thần thôn, nương tựa thành trì thì gọi thần thành, nương tựa quốc gia thì gọi thần quốc gia, nương tựa đất thì gọi thần đất, nương tựa núi thì gọi thần núi, nương tựa sông thì gọi là thần sông(1).
Trong đoạn kinh này, có những lưu ý quan trọng: Thứ nhất, tất cả mọi nơi cư trú và sinh hoạt của con người, từ nhà cửa cho đến bãi tha ma… đều có quỷ thần cư ngụ. Thứ hai, tên của các vị thần được định danh gắn liền với chỗ cư ngụ của họ. Ở đây, có một khái niệm cần phải làm rõ, đó là danh từ quỷ thần (鬼神).
Trong Lăng nghiêm kinh quán nhiếp (楞嚴經貫攝), đã nêu định nghĩa: Những vị ưu thắng thì được gọi là thần, kẻ kém hơn thì gọi là quỷ. Thần thực ra chính là quỷ có phúc đức vậy(2).
Có thể nói rằng, cảnh giới quỷ thần nói chung rất phong phú và đa dạng. Nếu như tạm thời đồng ý với định nghĩa này, thế thì trong Kinh tạng Nikāya, cụ thể là kinh Tương ưng bộ, ở phần Tương ưng rừng (Arañnã Saṃyutta) và Tương ưng dạ-xoa (Yakkha Saṃyutta), có những liên hệ gì khi so sánh với đoạn kinh nêu trên trong Trường A-hàm?
Trong Tương ưng rừng, gồm 14 kinh ngắn, mô tả các cuộc gặp gỡ và hội thoại giữa chư thiên và Tỷ-kheo khi sống ở trong rừng và các trú xứ khác. Theo kinh, chư thiên xuất hiện vào ban đêm hoặc lúc thích hợp để cảnh giác, khuyên nhủ, hoặc tán thán các Tỷ-kheo về việc tránh phóng dật, đoạn tham ái, dục vọng, tạp thoại, bất chánh tư duy, và khuyến khích tinh tấn, chánh niệm, viễn ly, hướng đến Niết-bàn. Sau đây là tóm tắt một số kinh tiêu biểu:
Kinh Viễn ly (Vivekasutta, S.I. 197): Chư thiên khuyên Tỷ-kheo bỏ tư tưởng xấu ác, liên hệ về gia đình, chế ngự dục, an trú chánh niệm.
Kinh Săn sóc (Upaṭṭhānasutta, S.I. 197): Chư thiên đánh thức Tỷ-kheo ngủ ban ngày, khuyên vị ấy tinh tấn, không để dục quấy nhiễu.
Kinh Kassapagotta (Kassapagottasutta, S.I. 198): Chư thiên khuyên Tỷ-kheo phải nói pháp đúng đối tượng, cần phải lưu ý đối với những kẻ không có trí tuệ.
Kinh Số đông (Sambahulasutta, S.I. 199): Chư thiên buồn vì Tỷ-kheo lìa rừng đi du hành, nhưng khen Tỷ-kheo tự do du hành như nai thoát bẫy.
Kinh Ananda (Ānandasutta, S.I. 199): Chư thiên khuyên Tôn giả Ananda tập trung thiền định, tránh tạp thoại quá nhiều với cư sĩ.
Kinh Anuruddha (Anuruddhasutta, S.I. 200): Một vị thiên nữ vốn là vợ của Tôn giả Anuruddha ở đời trước, gợi lại kỷ niệm xưa; Tôn giả Anuruddha đáp rằng đã đoạn sinh tử, nhờ hiểu vô thường.
Kinh Nāgadatta (Nāgadattasutta, S.I. 200): Chư thiên khuyên Tôn giả Nāgadatta đi khất thực đúng thời, tránh vướng cảm thọ và ác ma.
Kinh Gia phụ (Kulagharaṇīsutta, S.I. 201): Chư thiên hóa thân thành gia phụ của Tỷ-kheo, khuyên vị ấy không nhiễm trước thế gian.
Kinh Vajjiputta (Vajjiputtasutta, S.I. 201): Chư thiên khuyên Tỷ-kheo Bạt-kỳ rằng: Cô độc tu hành quý hơn thiên giới.
Kinh Tụng đọc (Sajjhāyasutta, S.I. 202): Chư thiên khuyên đọc pháp; Tỷ-kheo đáp đã chứng ly dục, không cần tụng nữa.
Kinh Tư duy bất cánh (Akusalavitakkasutta, S.I. 203): Chư thiên khuyên Tỷ-kheo bỏ tư duy bất thiện, hướng chánh tư duy, nương nơi Tam bảo.
Kinh Giữa trưa (Majjhanhikasutta, S.I. 203): Chư thiên sợ tiếng động rừng; Tỷ-kheo hoan hỷ với chánh niệm.
Kinh Chế ngự các căn (Pākatindriyasutta, S.I. 203): Chư thiên chê trách nhiều Tỷ-kheo sống buông lung, ngạo mạn; với những Tỷ-kheo tinh tấn thì khen ngợi, quy kính đảnh lễ.
Kinh Kẻ trộm hương (Gandhatthenasutta, S.I. 204): Chư thiên chê trách Tỷ-kheo ngửi sen mà không xin phép, đó là hành vi trộm cắp.
Những sự nhắc nhở của chư thiên dành cho Tỷ-kheo trong những bài kinh trên mang những ý nghĩa tích cực, thể hiện sự hỗ trợ và tôn kính từ chư thiên ở các cõi trời đối với hàng đệ tử xuất gia trên bước đường tu tập. Dù hưởng phước báo lớn, chư thiên vẫn bị ràng buộc trong sinh tử luân hồi, thế nên họ nhận ra rằng, con đường tu hành xuất ly, ly dục, tinh tấn hướng Niết-bàn của Tỷ-kheo cao quý hơn cả thiên giới, nên chủ động can thiệp, giúp Tỷ-kheo không sa ngã. Qua những bài kinh ngắn trên đã phản ánh tính linh động và thực tiễn của sư tương trợ này. Bởi lẽ, các điều nhắc nhở rất cụ thể, gần gũi, từ việc ngủ ngày, tạp thoại, cho đến việc vi phạm những giới nhỏ như ngửi hương đã cho thấy đạo Phật chú trọng cả giới luật lớn lẫn hành vi nhỏ nhặt hàng ngày.
Tóm lại, sự tác động của chư thiên là biểu trưng cho sự hộ trì của thiện pháp đối với những ai đang tinh tấn tu tập. Sự hỗ trợ đó còn nhắc nhở rằng, con đường giải thoát vượt trội hơn mọi phước báo thế gian, kể cả cõi trời, và mọi chúng sinh nói chung đều cần chánh niệm, tinh tấn để thoát khổ.
Và trên một bình diện khác, sự hỗ trợ của chư thiên đối với các vị Tỷ-kheo được ghi nhận qua Tương ưng rừng (Arañnã Saṃyutta) đã khẳng định một điều quan trọng là: Có rất nhiều thiện thần (Devatā) luôn hiện hữu xung quanh ta.
Tương tự như Tương ưng rừng, Tương ưng dạ-xoa (Yakkha Saṃyutta) mô tả các cuộc gặp gỡ giữa Đức Phật hoặc các vị Tỷ-kheo với các vị dạ-xoa (yakkha), một loại quỷ thần trong tín ngưỡng dân gian Ấn Độ cổ đại, thường sống ở núi rừng, cây cối, nơi hoang vắng, có sức mạnh siêu nhiên, tính tình đa dạng, từ hung dữ, thù địch cho đến thân thiện, hoặc hiếu kỳ, hoặc phát tâm cầu pháp.
Tương ưng dạ-xoa gồm 12 bài kinh, với nội dung khái quát như sau:
Kinh Indaka (Indakasutta, S.I. 206): Dạ-xoa Indaka hỏi về nguồn gốc thân thể, từ kalala, abbuda, pesi, ghana cho đến các chi phần. Đức Phật giải thích quá trình thai nghén theo trí thông đạt của Ngài và hoàn toàn phù hợp với nhận thức của khoa học đương đại.
Kinh Sakkā (Sakkanāmasutta, S.I. 206): Có vị dạ-xoa tên Sakka, khác với Đế-thích, than phiền về sự bất công, hỏi về thiện ác và Đức Phật đã tùy nghi giảng bày, Ngài nhấn mạnh nghiệp quả, không nên oán trách số phận.
Kinh Suciloma (Sūcilomasutta, S.I. 207): Có hai dạ-xoa Suciloma và Kharaloma. Theo Chú giải, dạ-xoa Sūciloma có lông như mũi kim, lông dựng ngược và há miệng rất dễ sợ, còn dạ-xoa Khara có vảy như vảy cá sấu, hai vị này có hành vi thô bạo với đức Thế Tôn nhưng ngài không bị phiền nhiễu.
Kinh Maṇibhadda (Maṇibhaddasutta, S.I. 208): Dạ-xoa Manịbhadda hiểu về chánh niệm chưa đầy đủ và được Phật tái định nghĩa và mở bày thêm.
Kinh Sānu (Sānusutta, S.I. 208): Con trai của một nữ cư sĩ, tên là Sānu bị dạ-xoa ám ảnh. Nữ cư sĩ đọc một bài kệ, khen ngợi việc tu tập trai giới và sống phạm hạnh thì không bị dạ-xoa ám ảnh. Vị dạ-xoa xác nhận điều này.
Kinh Piyaṅkara (Piyaṅkarasutta, S.I. 209): Tôn giả Anuruddha, đứa trẻ tên Piyaṅkara, con của dạ-xoa than khóc. Và dạ-xoa đã dỗ con nín, đừng gây ồn ào cho vị Tỷ-kheo đang tụng đọc Pháp cú.
Kinh Punabbasu (Punabbasusutta, S.I. 209): Cũng có nội dung tương tự như kinh trên, nhưng có sự khác biệt là Đức Thế Tôn tuyên thuyết giáo pháp cho các Tỷ-kheo.
Kinh Sudatta (Sudattasutta, S.I. 210): Thương nhân Tu-đạt (Sudatta), còn gọi là Trưởng giả Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika) muốn đến gặp Phật lần đầu nhưng bị phi nhân khiến cho lo sợ thì được dạ-xoa Sīvaka khích lệ ba lần để vị này mạnh dạn tiến lên.
Kinh Sukkā thứ nhất (Paṭhamasukkāsutta, S.I. 212): Tỷ-kheo-ni Sukkā thuyết pháp, được thính chúng đông đảo vây quanh, rồi một dạ-xoa có lòng tịnh tín đối với Tỷ-kheo-ni Sukkā đã đi khắp thành Vương-xá (Rājagaha) khích lệ mọi người đến nghe giảng.
Kinh Sukkā thứ hai (Dutiyasukkāsutta, S.I. 212): Tỷ-kheo-ni Sukkā thuyết pháp, được nam cư sĩ dâng cúng thức ăn, rồi một dạ-xoa có lòng tịnh tín đối với Tỷ-kheo-ni Sukkā, như kinh trên đã nói.
Kinh Cīrā (Cīrāsutta, S.I. 213): Một cư sĩ dâng y cúng dường Tỷ-kheo-ni Cīrā, rồi một dạ-xoa có lòng tịnh tín đối với Tỷ-kheo-ni Sukkā đã đi khắp thành Vương-xá (Rājagaha), tán thán đức hạnh của vị Tỷ-kheo-ni này.
Kinh Āḷavaka (Āḷavakasutta, S. I. 213): Dạ-xoa Ālạvaka hung hăng đuổi Đức Phật, đưa ra câu đố khó và có lời nói đe dọa như hành hạ tâm, xé nát tim, ném Ngài qua sông Hằng… Đức Phật trả lời xuất sắc về bố thí, xuất gia, chân lý khiến dạ-xoa Ālạvaka quy y.
Có thể nói, mối quan hệ giữa dạ-xoa với Đức Phật và các vị Tỷ-kheo và Tỷ-kheo-ni trong Tương ưng dạ-xoa chủ yếu thể hiện sự tương tác đa dạng, từ đối đầu đến cảm hóa, và cuối cùng thường dẫn đến sự tôn kính hoặc bảo hộ. Với Đức Phật, các loại dạ-xoa lúc ban đầu đôi khi tỏ ra thù địch, hung hãn hoặc thể hiện những thử thách, nhưng Đức Phật luôn điềm tĩnh, với lòng từ bi và trí tuệ khiến họ cảm phục và quy y Tam bảo. Một số dạ-xoa khác tò mò, hiếu khách hoặc hỏi pháp ngay từ đầu và cũng được Đức Phật tùy duyên giảng dạy, dẫn đến tán thán hoặc quy ngưỡng.
Với các vị Tỷ-kheo và Tỷ-kheo-ni thì các loại dạ-xoa thể hiện mối liên hệ mang tính bảo hộ, khích lệ hoặc tránh quấy rối. Đơn cử như, dạ-xoa Sīvaka khuyến khích thương nhân Sudatta vượt qua sợ hãi để gặp Phật; dạ-xoa có lòng tịnh tín với Tỷ-kheo-ni Sukkā hoặc Cīrā đi khắp thành Rājagaha tán thán, khuyên dân chúng đến nghe pháp, cúng dường. Trong các kinh như Sānu, Piyaṅkara, Punabbasu: Dạ-xoa, hoặc khi nghe giới hạnh, Phạm hạnh hoặc pháp âm từ Tỷ-kheo như Tôn giả Anuruddha, thì họ ngừng việc quấy rối, thể hiện sự tôn trọng sức mạnh của giới luật và Chánh pháp.
Tổng thể, dạ-xoa dù mạnh mẽ, hung ác hay thiện lành, đều bị cảm hóa bởi trí tuệ, từ bi của Đức Phật và sự thực hành giới - định - tuệ của Tăng đoàn, dẫn đến chuyển từ đối kháng sang hộ trì, tán thán hoặc quy y. Điều này nhấn mạnh giá trị phổ quát của Phật pháp, ngay cả với các loài phi nhân.
Từ Tương ưng rừng cho đến Tương ưng dạ-xoa trong kinh Tương ưng bộ, ta có thể rút ra nhận định rằng: Dù ở bất cứ môi trường nào, thành thị, nông thôn hay nơi hoang vắng thì đều có sự cư trú của các vị thiên hoặc dạ-xoa. Các vị ấy có khi hiện hình, có khi ẩn thân, và điều này cho thấy sự cộng trú của nhiều loài chúng sinh trên thế gian là một sự thật được bảo chứng bởi nhiều nguồn kinh điển khả tín.
------------------------
(1)Trường A-hàm kinh, Thế ký kinh, Đao Lợi thiên phẩm 長阿含經, 世記經, 忉利天品 (T.01. 0001.30.8. 0135a27). Nguyên tác: 佛告比丘:「一切人民所居舍宅,皆有鬼神,無有空者。一切街巷四衢道中,屠兒市肆及丘塚間,皆有鬼神,無有空者。凡諸鬼神皆隨所依,即以為名,依人名人,依村名村,依城名城,依國名國,依土名土,依山名山,依河名河.
(2)Lăng nghiêm kinh quán nhiếp 楞嚴經貫攝 (X.15. 0303.8. 0512a13).
(NSGN 360)
Chúc Phú/Nguyệt san Giác Ngộ
1 giờ trước
39 phút trước
7 phút trước
5 phút trước
1 phút trước
3 phút trước
5 phút trước
13 phút trước
20 phút trước
25 phút trước
28 phút trước