🔍
Chuyên mục: Nghệ thuật

Trò Xuân Phả: 'Bảo tàng sống' của những cuộc giao hòa văn hóa

1 giờ trước
Hơn 1.000 năm tồn tại và được trao truyền qua nhiều thế hệ, Trò Xuân Phả không chỉ là một loại hình diễn xướng dân gian độc đáo của xứ Thanh, mà còn lưu giữ những câu chuyện về lịch sử, nghệ thuật và sự giao lưu văn hóa. Trong nỗ lực bảo tồn và phát huy di sản, những người trẻ hôm nay đang tìm cách kể lại câu chuyện ấy bằng một ngôn ngữ mới.

Di sản ngàn năm

Tháng 9.2016, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam đã chính thức ghi danh Trò Xuân Phả (xã Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa) vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia. Theo những tư liệu và truyền thuyết được lưu truyền tại địa phương, Trò Xuân Phả được hình thành và phát triển hơn 1.000 năm, mô tả cảnh năm phương đến chầu, mang lễ vật cùng những tiết mục múa hát đặc sắc để chúc mừng nhà vua và triều đình Đại Việt sau chiến thắng hoặc trong những dịp đại lễ.

Năm trò diễn với năm điệu múa đặc biệt gồm: Hoa Lang (tượng trưng cho vương quốc Cao Ly), Tú Huần (tượng trưng cho Lục Hồn Nhung), Ai Lao (tượng trưng cho Thái – Lào), Ngô Quốc (tượng trưng cho một quốc gia cổ đại ở Trung Quốc) và Chiêm Thành (tượng trưng người Chăm-pa); được gọi chung là “Ngũ quốc lân bang đồ tiến cống”.

Trò Tú Huần tượng trưng cho Lục Hồn Nhung với đặc trưng là chiếc mặt nạ độc đáo.

Nguồn gốc của Trò Xuân Phả được người dân địa phương lưu truyền từ thời Đinh và được cho là thăng hoa vào thời Lê sơ. Theo truyền thuyết, trong cuộc dẹp loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh từng cử sứ giả đi cầu sự phù trợ. Trên đường đi, sứ giả gặp giông tố và trú lại tại nghè Xuân Phả. Câu chuyện ấy về sau trở thành một phần trong truyền thuyết lý giải nguồn gốc của trò diễn.

Đến thời Lê sơ, hình ảnh các nước lân bang mang lễ vật đến chầu cũng được ghi lại trong những tư liệu lịch sử. Từ đó, Trò Xuân Phả được lưu truyền như một hình thức tái hiện cảnh các đoàn sứ giả từ nhiều vùng đất khác nhau đến mừng chiến thắng và chúc tụng triều đình Đại Việt.

Trong năm trò, ba trò Hoa Lang, Tú Huần và Chiêm Thành có sử dụng mặt nạ. Đặc biệt, ở Hoa Lang và Chiêm Thành, người diễn không đeo mặt nạ mà ngậm mặt nạ nửa mặt dưới bằng một nút gỗ. Chính hệ thống phục trang, động tác và đội hình ấy khiến Trò Xuân Phả mang một diện mạo rất riêng. Các vũ công nam thực hiện những động tác phóng khoáng, tay chân mở rộng, kết hợp sức mạnh với sự mềm mại, tạo nên đặc trưng “trong nhu có cương, trong cương có nhu”.

Trò Ngô Quốc tượng trưng cho một quốc gia cổ đại ở Trung Quốc, là trò duy nhất lộ mặt nhân vật.

Trò Xuân Phả có sự hòa quyện giữa yếu tố cung đình và dân gian, giữa tính nghi lễ và tính trình diễn, giữa vẻ huyền bí, lộng lẫy với những nét gần gũi của đời sống người nông dân. Một số nhận định cho rằng Trò Xuân Phả có nét tương đồng với hình thức lễ hội hóa trang, song di sản này vẫn mang đậm những đặc điểm riêng của nghệ thuật dân gian và cung đình Việt Nam.

Di sản được kể bằng ngôn ngữ của người trẻ

Việc Trò Xuân Phả được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia là sự ghi nhận đối với giá trị của một loại hình diễn xướng được cộng đồng lưu giữ qua nhiều thế hệ. Song, điều đó không đồng nghĩa với việc di sản tự nhiên có thể tiếp cận tới đông đảo công chúng.

Xuất phát từ trăn trở đó, nhóm sinh viên Đại học FPT đã khởi xướng dự án Kim Hội Vũ với chương trình “Trò trăng trò trống”, phối hợp với Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám tổ chức. Chương trình mở ra không gian tương tác khi người tham dự được thưởng thức năm trò diễn, nghe nghệ nhân kể chuyện, tìm hiểu ý nghĩa của từng trò và trực tiếp học những động tác múa cơ bản.

Trò Chiêm Thành tượng trưng người Chăm-pa.

Phạm Khánh Linh, Trưởng dự án Kim Hội Vũ, cho biết nhóm lựa chọn Trò Xuân Phả bởi đây là một di sản giàu giá trị nhưng chưa được nhiều người biết đến.

“Không chỉ riêng người trẻ, tôi nghĩ rằng vẫn còn nhiều nhóm công chúng chưa biết đến Trò Xuân Phả. Chúng tôi mong rằng, việc xem biểu diễn, nghe câu chuyện phía sau, được tìm hiểu và trực tiếp trải nghiệm sẽ khiến khán giả biết tới và hiểu hơn về di sản này”, Khánh Linh nói.

Trong quá trình thực hiện dự án, nhóm sinh viên cũng nhận ra rằng việc khai thác văn hóa truyền thống đòi hỏi sự thận trọng. Theo Khánh Linh, sáng tạo với di sản là cần thiết để truyền thống có thể bước vào đời sống đương đại, nhưng sự sáng tạo ấy phải bắt đầu từ nghiên cứu nghiêm túc và sự tôn trọng giá trị gốc.

Bởi vậy, với Kim Hội Vũ, mục tiêu không phải biến Trò Xuân Phả thành một sản phẩm thời thượng trong thời gian ngắn. Điều nhóm mong muốn là khơi lên sự tò mò để sau chương trình, khán giả tiếp tục tìm hiểu về di sản.

Nghệ nhân ưu tú Bùi Văn Hùng, người đã có 36 năm nghiên cứu, sưu tầm và thực hành Trò Xuân Phả, chia sẻ tại chương trình: “Để thực hành Trò Xuân Phả, trước hết là phải có sự đam mê. Sự đam mê ấy phải xuất phát từ tình yêu quê hương, từ giá trị lịch sử, giá trị nghệ thuật và giá trị xã hội của Trò Xuân Phả”, ông cho biết.

Nghệ nhân ưu tú Bùi Văn Hùng.

Sinh ra và lớn lên tại làng Xuân Phả, ông Hùng tiếp xúc với trò diễn từ khi còn nhỏ, qua những lần theo cha mẹ, anh chị đi xem hội. Những hình ảnh của tiếng trống, điệu múa và không khí hội làng dần trở thành ký ức tuổi thơ, rồi chuyển thành tình yêu với văn hóa quê hương. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ quân sự trở về địa phương, ông tiếp tục tìm hiểu và gắn bó với di sản. Khi làm Bí thư Đoàn xã, ông cùng một số thanh niên tìm tòi, sưu tầm và học lại các trò diễn từ những người thuộc thế hệ trước.

“Để trở thành người trực tiếp thực hành các giá trị văn hóa, di sản nói chung, mỗi người nghệ nhân đều phải dành thời gian luyện tập, nghiền ngẫm để những giá trị ấy thực sự ngấm vào trong mình”, nghệ nhân Bùi Văn Hùng cho biết.

Được trực tiếp trải nghiệm, bạn Nguyễn Thanh Hòa bày tỏ sự thích thú: “Thông qua Trò Xuân Phả, tôi hiểu thêm rằng từ xa xưa cha ông ta đã có sự giao lưu, tiếp thu tinh hoa văn hóa, đồng thời luôn có ý thức gìn giữ và truyền lại cho các thế hệ sau. Tôi mong sẽ có thêm nhiều hoạt động như thế này để người trẻ hiểu hơn về văn hóa truyền thống, từ đó có ý thức gìn giữ và phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc trong bối cảnh hội nhập.”

Trao truyền tình yêu di sản

Trò Xuân Phả hiện vẫn được cộng đồng địa phương trình diễn trong các dịp lễ hội, trong đó có hội tại Nghè Xuân Phả vào tháng 2 âm lịch hằng năm. Di sản cũng từng xuất hiện tại nhiều lễ hội lớn, cho thấy sức sống của loại hình nghệ thuật đã vượt ra ngoài không gian làng xã.

Tư liệu về Trò Xuân Phả cũng ghi nhận những dấu mốc đáng chú ý trong hành trình lan tỏa của di sản. Năm 1935, trò diễn được trình diễn tại hội chợ nông sản huyện Thọ Xuân với sự tham dự của các quan đầu tỉnh người Việt và người Pháp. Năm 1936, người dân Xuân Phả được mời về kinh đô Huế biểu diễn trước vua Bảo Đại.

Tiếng trống vang lên đều đặn trong mỗi tiết mục.

Những dấu mốc ấy cho thấy Trò Xuân Phả từng nhiều lần bước ra khỏi không gian làng quê để đến với những công chúng khác nhau. Nhưng hành trình bảo tồn hôm nay đặt ra một yêu cầu mới: làm thế nào để di sản không chỉ được biểu diễn, mà còn được hiểu và tiếp tục sống trong nhận thức của thế hệ trẻ.

Đó không phải công việc chỉ của riêng nghệ nhân. Một người dành hơn 36 năm để giữ từng điệu múa; những người trẻ dành thời gian nghiên cứu, tìm hiểu và tìm cách kể lại câu chuyện bằng ngôn ngữ đương đại; những khán giả lần đầu đeo mặt nạ, tập một động tác múa và lắng nghe câu chuyện phía sau sân khấu. Mỗi người có thể đứng ở một vị trí khác nhau, nhưng cùng tham gia vào một hành trình: giữ cho di sản không trở thành ký ức đóng kín. Bởi giá trị của một di sản không chỉ nằm ở việc nó đã tồn tại bao lâu, mà còn ở khả năng tiếp tục được trao truyền, được hiểu và được yêu trong hiện tại.

Với Trò Xuân Phả, những nhịp trống từ làng cổ xứ Thanh vì thế vẫn có cơ hội vang lên trong đời sống hôm nay – không chỉ như âm thanh của quá khứ, mà như lời mời gọi thế hệ mới bước vào, khám phá và tiếp nối một phần ký ức văn hóa của dân tộc.

Ngọc Phạm - Ảnh: NVCC














Home Icon VỀ TRANG CHỦ