🔍
Chuyên mục: Giáo dục

Trẻ em trước những nguy cơ mới: Cần một 'tấm lá chắn' pháp lý hiệu quả hơn

2 giờ trước
Từ bạo lực học đường, xâm hại đến rủi ro trên không gian mạng, trẻ em đang phải đối mặt với những nguy cơ ngày càng phức tạp. Theo TS.LS Đặng Văn Cường, một hành lang pháp lý hiệu quả phải lấy phòng ngừa làm trọng tâm, có cơ chế cảnh báo sớm...

Liên tiếp các vụ bạo lực học đường, xâm hại trẻ em, ngộ độc thực phẩm trong trường học, bắt nạt trên không gian mạng hay lộ lọt dữ liệu cá nhân đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về những nguy cơ ngày càng phức tạp đối với trẻ em trong bối cảnh hiện nay. Thực tế này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý, đồng thời nâng cao hiệu quả tổ chức thực thi nhằm bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của trẻ em.

Trong cuộc trao đổi với phóng viên Báo Sức khỏe và Đời sống, TS.LS Đặng Văn Cường, Hội Bảo vệ trẻ em Việt Nam, phân tích những khoảng trống cần được lấp đầy trong hệ thống pháp luật trước các thách thức mới của môi trường số, sức khỏe học đường và an toàn thực phẩm. Bên cạnh đó, ông cũng chỉ ra khoảng cách giữa quy định và thực tiễn, những bất cập trong cơ chế phối hợp giữa các chủ thể có trách nhiệm bảo vệ trẻ em, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng một hành lang pháp lý theo hướng lấy phòng ngừa làm trọng tâm, phát hiện sớm, can thiệp kịp thời và tạo dựng môi trường an toàn để mọi trẻ em được phát triển toàn diện.

Hình ảnh tại chương trình Mô hình điểm “Bữa ăn học đường đảm bảo dinh dưỡng hợp lý kết hợp tăng cường hoạt động thể lực cho trẻ em, học sinh, sinh viên Việt Nam”.

Trẻ em đang đối mặt với nhiều nguy cơ mới phức tạp

Phóng viên: Thời gian gần đây, nhiều vấn đề liên quan đến môi trường học đường và sức khỏe trẻ em nhận được sự quan tâm của xã hội. Theo ông, điều này cho thấy yêu cầu hoàn thiện hành lang pháp lý bảo vệ trẻ em đang đặt ra cấp thiết như thế nào?

TS.LS Đặng Văn Cường: Có thể thấy, thời gian gần đây liên tiếp xảy ra nhiều vụ việc gây lo ngại như bạo lực học đường, xâm hại trẻ em, ngộ độc thực phẩm tại trường học, tai nạn thương tích, trẻ em bị bắt nạt trên không gian mạng, lộ lọt dữ liệu cá nhân của trẻ…

Những vụ việc này cho thấy trẻ em đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ mới, phức tạp hơn rất nhiều so với trước đây. Trẻ em trở thành nạn nhân bị bắt nạt trên không gian mạng, bị lừa gạt lạm dụng tình dục. Trong đời sống xã hội thì trẻ em bị bạo hành, bị xâm hại liên tục xảy ra là điều rất đáng lo ngại trong bối cảnh xã hội hiện nay.

Trong khi đó, trẻ em là nhóm đối tượng đặc biệt cần được Nhà nước ưu tiên bảo vệ theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam cũng như các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Vì vậy, việc hoàn thiện hành lang pháp lý không chỉ là yêu cầu cấp bách mà còn là trách nhiệm của Nhà nước trong bảo đảm quyền con người và quyền trẻ em.

Điều cần hướng tới không chỉ là ban hành thêm quy định pháp luật để hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ trẻ em, đặc biệt là bảo vệ trẻ em trong không gian mạng, bảo vệ trẻ em yếu thế chồng trong xã hội mà là xây dựng một hệ thống pháp luật mang tính phòng ngừa, phát hiện sớm, can thiệp kịp thời và xử lý nghiêm các hành vi xâm hại trẻ em. Một hành lang pháp lý tốt phải đủ khả năng bảo vệ trẻ em trước khi các em trở thành nạn nhân.

Phóng viên: Theo ông, hệ thống pháp luật hiện nay đã đủ để bảo vệ trẻ em trước các nguy cơ trong môi trường sống và học tập hay vẫn còn những khoảng trống cần được lấp đầy?

TS.LS Đặng Văn Cường: Có thể khẳng định Việt Nam đã xây dựng được hệ thống pháp luật khá toàn diện về bảo vệ trẻ em. Hệ thống pháp luật về bảo vệ trẻ em ở Việt Nam hiện nay khá hoàn chỉnh. Việt Nam cũng là quốc gia gia nhập công ước về quyền trẻ em từ rất sớm. Ngoài Luật Trẻ em 2016 còn có nhiều quy định trong Bộ luật Hình sự sửa đổi 2025, Luật Giáo dục 2019, Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023, Luật An ninh mạng 2018, các quy định về an toàn thực phẩm, bảo vệ dữ liệu cá nhân… rất nhiều văn bản dưới luật quy định về bảo vệ trẻ em, đặc biệt là bảo vệ trẻ em trên không gian mạng.

Tuy nhiên, vấn đề hiện nay không nằm ở việc thiếu luật mà là còn thiếu sự liên thông giữa các quy định, thiếu cơ chế phối hợp và thiếu các quy định điều chỉnh những nguy cơ mới.

Ví dụ, đối với trí tuệ nhân tạo, mạng xã hội, trò chơi trực tuyến, dữ liệu sinh trắc học, quảng cáo hướng tới trẻ em, các quy định hiện nay vẫn chưa theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ. Đối với an toàn thực phẩm trong trường học, chế tài xử lý đã có nhưng cơ chế giám sát, kiểm soát rủi ro từ đầu vẫn còn hạn chế.

Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật theo hướng lấy trẻ em làm trung tâm, bảo đảm mọi chính sách đều được đánh giá tác động đối với quyền trẻ em trước khi ban hành.

Khi xã hội càng phát triển thì những vấn đề mới sẽ phát sinh, nguy cơ trẻ em bị bạo hành, bị xâm hại, bị xâm phạm quyền ngày càng nhiều, đặc biệt là trên không gian mạng. Bởi vậy mặc dù hệ thống pháp luật Việt Nam tương đối hoàn chỉnh nhưng vẫn phải sửa đổi bổ sung cho phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế xã hội, thực tiễn nhu cầu bảo vệ trẻ em.

Có những hành vi mới, thói quen mới, phương tiện điện tử, công nghệ có thể có tác động tiêu cực đến sức khỏe, tâm lý, đời sống của trẻ em mà cần có luật điều chỉnh thì cần phải bổ sung luật. Bảo vệ trẻ em phải bắt đầu từ chính sách, hoàn thiện pháp luật, xây dựng cơ chế để tổ chức thực hiện pháp luật và tổng kết thực tiễn qua từng thời kỳ và trình giai đoạn thì bảo vệ trẻ em mới ra hiệu quả.

Khoảng cách từ lý thuyết đến thực tế trong "làm những gì tốt nhất cho trẻ em"

Phóng viên: Theo ông, nguyên tắc "lợi ích tốt nhất của trẻ em" đã được thể chế hóa đầy đủ trong các chính sách, quy định hiện hành hay chưa? Việc thực thi nguyên tắc này đang gặp những rào cản gì?

TS.LS Đặng Văn Cường: Nguyên tắc "lợi ích tốt nhất của trẻ em" đã được ghi nhận khá đầy đủ trong pháp luật Việt Nam và phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em. Đây là nguyên tắc quan trọng mà Việt Nam rất quan tâm và ghi nhận từ sớm, góp phần bảo vệ trẻ em có hiệu quả.

Tuy nhiên, từ quy định đến thực tiễn vẫn còn khoảng cách khá lớn. Nhiều quyết định liên quan đến trẻ em vẫn được đưa ra theo góc nhìn của người lớn hoặc theo yêu cầu quản lý hành chính mà chưa thực sự lắng nghe tiếng nói của trẻ em. Việc đánh giá lợi ích tốt nhất của trẻ đôi khi chưa được lượng hóa bằng các tiêu chí cụ thể.

Rào cản lớn nhất là nhận thức của một bộ phận cán bộ thực thi, nguồn lực còn hạn chế, thiếu đội ngũ chuyên gia tâm lý, công tác xã hội, bảo vệ trẻ em ở cơ sở và cơ chế giám sát việc thực hiện nguyên tắc này chưa thật hiệu quả.

Phóng viên: Như vậy việc thể chế hóa các quy định của pháp luật và đưa vào thực tiễn vẫn còn khoảng cách thưa ông?

TS.LS Đặng Văn Cường: Đúng là thế. Những nguyên tắc cơ bản, quan trọng để bảo vệ trẻ em cần phải được thể chế hóa thành các văn bản quy phạm pháp luật, có nhận thức thống nhất, được tổ chức thực hiện 1 cách nghiêm túc. Không chỉ có các cơ quan bảo vệ pháp luật mà các cơ sở giáo dục và đào tạo, các bậc phụ huynh cũng cần cập nhật các thông tin, kiến thức, các quy định của pháp luật về bảo vệ trẻ em. Sử dụng các chính sách, pháp luật về bảo vệ trẻ em như 1 công cụ để thực hiện nhiệm vụ cũng như tập trung bảo vệ quyền trẻ em liên quan đến ngành, lĩnh vực, thẩm quyền của mình

Phóng viên: Theo ông, hệ thống pháp luật hiện nay đã tạo được cơ chế phòng ngừa sớm hay vẫn thiên về xử lý sau vi phạm?

TS.LS Đặng Văn Cường: Chính sách pháp luật của Việt Nam là nhân văn, hướng thiện, chú trọng các giải pháp phòng ngừa. Đặc biệt là đối với vấn đề bảo vệ trẻ em thì phòng ngừa là yếu tố được quan tâm và đề cao hơn là yếu tố quy định và áp dụng chế tài để xử lý vi phạm khi sự việc đã rồi.

Phòng ngừa được thể hiện trong chính các quy định của luật trẻ em, của các văn bản pháp luật có liên quan và các văn bản hướng dẫn thi hành. Phòng ngừa không chỉ dừng ở các chương trình tuyên truyền mà cần phải xây dựng các các cơ chế cảnh báo sớm, phát hiện sớm và can thiệp sớm.

Các quy định về phòng ngừa trong công tác bảo vệ trẻ em thuộc cấp độ bảo vệ thứ nhất theo Luật Trẻ em 2016. Mục tiêu là trang bị kiến thức, xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh và giảm thiểu tối đa nguy cơ trẻ em bị xâm hại hoặc rơi vào hoàn cảnh đặc biệt.

Tuy nhiên, vấn đề tổ chức thực hiện pháp luật, biến các cơ chế phòng ngừa đó trở thành tấm lá chắn để bảo vệ trẻ em mới là vấn đề quan trọng. Trong thực tế, nhiều đơn vị, địa phương chưa chú trọng nhiều đến các giải pháp phòng ngừa trong bảo vệ trẻ em. Kể cả vấn đề bạo lực học đường cũng xảy ra nhiều do yếu tố phòng ngừa chưa được chú trọng.

Phóng viên: Ông có thể nêu một vài ví dụ?

TS.LS Đặng Văn Cường: Ví dụ, nhiều vụ bạo lực học đường diễn ra trong thời gian dài nhưng nhà trường không phát hiện; nhiều vụ xâm hại trẻ em chỉ được phát hiện khi hậu quả đã nghiêm trọng.

Trong thời gian tới, cần xây dựng cơ chế bắt buộc đánh giá rủi ro đối với trẻ em tại trường học, cơ sở nuôi dưỡng, khu vui chơi và môi trường mạng; đồng thời thiết lập quy trình phản ứng nhanh ngay khi có dấu hiệu bất thường.

Bảo vệ và chăm sóc trẻ em là trách nhiệm của gia đình, nhà trường và toàn xã hội.

Phân chia trách nhiệm bảo vệ trẻ em

Phóng viên: Theo ông, trách nhiệm bảo vệ trẻ em hiện được phân chia giữa gia đình, nhà trường, chính quyền và các cơ quan quản lý như thế nào? Có xảy ra tình trạng "khoảng trống trách nhiệm" hay không?

TS.LS Đặng Văn Cường: Bảo vệ trẻ em là công việc khổng lồ, phức tạp, đòi hỏi cả hệ thống chính trị, vào cuộc. Bảo vệ trẻ em phải biến thành nhận thức và hành động của toàn xã hội thì trẻ em mới được an toàn, mới có không gian và điều kiện phát triển đầy đủ. Bởi vậy có thể nói rằng bảo vệ trẻ em là trách nhiệm của toàn xã hội chứ không phải của riêng ai.

Gia đình là nơi bảo vệ đầu tiên. Nhà trường có trách nhiệm bảo đảm môi trường giáo dục an toàn. Chính quyền địa phương chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về trẻ em. Các cơ quan như giáo dục, y tế, công an, lao động - xã hội có trách nhiệm phối hợp.

Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn xảy ra tình trạng "cha chung không ai khóc". Khi xảy ra vụ việc, các cơ quan đều có trách nhiệm nhưng chưa xác định rõ ai là đầu mối chịu trách nhiệm chính. Đây là khoảng trống cần được khắc phục bằng cơ chế phối hợp liên ngành chặt chẽ hơn và chế độ trách nhiệm cá nhân rõ ràng.

Phóng viên: Nếu có cơ hội kiến nghị sửa đổi hoặc bổ sung chính sách trong thời gian tới, theo ông đâu là ba ưu tiên lớn nhất để xây dựng một hành lang pháp lý đủ mạnh, đủ chủ động nhằm bảo vệ trẻ em trước những nguy cơ ngày càng đa dạng?

TS.LS Đặng Văn Cường: Phải hoàn thiện chính sách, sửa đổi bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật, xây dựng cơ chế tổ chức thực hiện là những nhiệm vụ thường xuyên trong quản lý nhà nước nói chung, đối với vấn đề bảo vệ trẻ em nói riêng. Theo tôi, có ba ưu tiên lớn khi xây dựng hành lang pháp lý, xây dựng cơ chế tổ chức thực hiện pháp luật, để bảo vệ quyền trẻ em trong kỷ nguyên mới, cụ thể:

Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật theo hướng phòng ngừa chủ động, bổ sung các quy định điều chỉnh những nguy cơ mới trong môi trường số, sức khỏe học đường, an toàn thực phẩm, sức khỏe tâm thần và bảo vệ dữ liệu cá nhân của trẻ em.

Thứ hai, xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành hiệu quả, xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, từng cá nhân; đồng thời tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm và trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra các vụ việc nghiêm trọng.

Thứ ba, đầu tư mạnh cho hệ thống bảo vệ trẻ em từ cơ sở, phát triển đội ngũ công tác xã hội, tư vấn tâm lý học đường, đường dây hỗ trợ trẻ em và cơ chế giám sát độc lập có sự tham gia của gia đình, nhà trường, tổ chức xã hội và cộng đồng.

Tôi cho rằng, một hành lang pháp lý thực sự hiệu quả không chỉ là hệ thống các quy định đầy đủ mà còn phải là một cơ chế vận hành đồng bộ, lấy phòng ngừa là trọng tâm, trẻ em là trung tâm và quyền, lợi ích tốt nhất của trẻ em là mục tiêu cao nhất. Chỉ khi pháp luật được thực thi nghiêm minh, có sự phối hợp của toàn xã hội và sự tham gia chủ động của cộng đồng, chúng ta mới có thể tạo dựng một môi trường an toàn, lành mạnh để mọi trẻ em được phát triển toàn diện cả về thể chất, trí tuệ và tinh thần.

Xin trân trọng cảm ơn những chia sẻ của ông!

Tô Hội (thực hiện)

TIN LIÊN QUAN






























Home Icon VỀ TRANG CHỦ