🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Trần Quang Long: Tình yêu và tranh đấu

1 giờ trước
Trong phong trào đấu tranh của tuổi trẻ đô thị miền Nam, Trần Quang Long là một trong những gương mặt tiêu biểu cho vẻ đẹp cường tráng về ý chí và nghị lực, về niềm tin và thái độ dấn thân đi về phía Nhân dân bằng tất cả sức mạnh của tuổi trẻ và tấm lòng của người trí thức yêu nước.

Nhà thơ Trần Quang Long (ngồi, bên trái). Ảnh: Tư liệu

Trái tim đa cảm giữa thời cuộc

Trần Quang Long quê gốc ở Bát Tràng (Gia Lâm, Bắc Ninh, nay là Hà Nội), sinh năm 1941 tại Huế và hy sinh ngày 11/10/1968 tại chiến trường Tây Ninh.

Ngay từ khi đang học ở Trường Quốc học (Huế), Trần Quang Long đã làm thơ, thức tỉnh và kiên trì tham gia phong trào học sinh, sinh viên yêu nước, xuyên suốt cho đến thời gian học ở Đại học Sư phạm Huế và những năm tốt nghiệp ra trường đi dạy học ở Quy Nhơn và Cần Thơ, mặc dù luôn bị nhà cầm quyền Sài Gòn lúc bấy giờ khủng bố, bắt bớ, tù đày và tra tấn dã man.

Hai lần bị bắt vào tù, bị đánh đến mức gãy cả chân... là những đánh đổi khắc nghiệt, làm sang chấn tâm hồn nhưng vẫn không làm giảm đi bầu nhiệt huyết trong ông.

Viết nhiều thể loại, nhưng thành công nổi bật và khẳng định phẩm chất và tài năng văn chương theo “kiểu Trần Quang Long” hơn cả là ở thể loại thơ, nhất là hai mảng đề tài trọng tâm chi phối hầu như toàn bộ cảm thức sáng tạo của ông là thơ tình yêu và thơ tranh đấu.

Trần Quang Long vốn là người yêu nhiều, kể cả trong đời và trong thơ. Một trong những người bạn thân cùng thời, cùng học với ông là võ sư, nhà giáo, nhà viết du ký tài hoa Nguyễn Văn Dũng trong hồi ký Trần Quang Long, lớn lên không ngừng, từng kể lại rằng: “Trong tình yêu, Long thuộc loại đa tình thiên cổ lụy. Tôi có anh bạn nhà thơ nổi tiếng tài hoa. Theo anh “người ta có thể cùng một lúc yêu nhiều người”. Trái tim rộng lớn là thế nhưng so với Long thì chẳng ăn thua gì. Long có thể yêu hết mọi cô gái trên đời, hễ gặp là yêu - yêu chân thành, yêu say đắm, yêu bát ngát càn khôn”.

Còn trong thơ, hẳn nhiên cũng không thể thiếu hình bóng những người phụ nữ. Con người kiêm ái ấy, buộc phải tự đánh thức trái tim mình trước những sinh thể cảm tính đậm đặc nội dung mỹ cảm, kiến tạo nên thế giới hình tượng, mang vẻ đẹp rạng ngời, vừa thánh thiện, tinh khôi vừa quyến rũ gọi mời.

Chỉ cần lướt nhanh tựa đề các bài thơ, các lời đề từ, đề tặng... cũng có thể nhận ra bóng dáng các đối tượng trữ tình đã thu hút năng lượng cảm xúc tâm hồn ông: Tố Chân, Tháng năm nhớ Cúc, Viết cho Phan trong những giọt nước mắt lạ, Của Trâm để nhớ trăng Linh Mụ, Của Đoan chiều Chủ nhật...

Tình yêu trong thơ ông, hầu như đều là những mối tình lặng thầm, chưa ngỏ, vừa thánh thiện vừa chân chất, mang đậm cảm hứng đợi chờ, khắc khoải và tôn thờ qua những lần chia xa hay bồi hồi nhớ lại.

Càng về sau, nhất là thời gian ông hoạt động trong phong trào sinh viên Sài Gòn, thơ tình của ông không còn cảm hứng và âm hưởng lãng mạn, trong sáng mà đã nhuốm màu thời cuộc, in đậm vết hằn của nỗi đau mất nước, nỗi thống khổ của một cuộc sống bất an bởi chiến tranh và sự rạn vỡ của một trật tự xã hội không thể hàn gắn.

Sức mạnh của lòng yêu nước

Thơ không chỉ phản ánh hiện thực cuộc sống đầy bất an mà còn vạch trần căn tính bản chất của chiến tranh xâm lược, không chỉ gây nên những chấn thương tinh thần mà còn là những chấn thương văn hóa, di chứng dài lâu.

Những bài thơ hay, mang cảm hứng như “tiếng hát những người đi tới” của Trần Quang Long, được lưu truyền trong tuổi trẻ các đô thị miền Nam là Thưa mẹ trái tim, Ta đi tới, Chúng ta bước đi, Tiếng hát người tù, Lớn lên không ngừng, Huế ơi... trong đó, có những câu thơ không chỉ được coi như một tuyên ngôn nghệ thuật, mà còn là sự cam kết của nhà thơ, của cả một thế hệ tuổi trẻ với Mẹ - Tổ quốc, với đất nước mình.

Thơ Trần Quang Long luôn đầy ắp cảm xúc, mạnh mẽ về âm thanh, dậy sóng về ngôn từ. Đọc thơ ông, là tiếp cận hệ thống ngôn từ mộc mạc, giản dị, mang ý nghĩa trực tiếp như tiếng nói vang vọng từ đời sống cần lao, nhưng lại luôn có sức quẫy đạp, tung phá từng lớp sóng ngôn từ, khi thì mơn man, dịu nhẹ đằm vị sắc màu mỹ cảm, khi lại vút cao, vây phủ trùng lấp lên nhau thao thiết, gọi mời.

Trần Quang Long quen thuộc và thành công với thể thơ tám chữ và thơ tự do, rất ít khi đến với thể thơ truyền thống lục bát, như nhiều nhà thơ khác. Dường như cảm xúc lúc nào cũng dồn về nén chặt, đầy ắp tâm hồn ông, luôn đòi hỏi cần phải bộc lộ, mà một khi đã nói ra thì chỉ có sự phóng túng của thể thơ tự do, không gò bó về số câu, số chữ mới truyền tải hết những gì trĩu nặng trong ông. Câu thơ tự do là hiện thân của khát vọng tự do, lối sống mạnh mẽ trong cuộc đời của thi nhân.

Kể cũng lạ, trong con người chỉ đi ngang qua cõi đời 27 năm, lại chứa đựng nhiều khối mâu thuẫn: Xuất thân là gia đình theo đạo Tin Lành, nhưng lại dấn thân vào những cuộc đấu tranh thường được khơi mào từ Phật giáo! Luôn cháy bỏng trong lòng những mối tình đượm lửa, lại không dám tỏ bày, mà ngoảnh mặt lao vào cơn lốc của cuộc đấu tranh!... những điều ấy chỉ có thể giải thích rằng, nó được dồn nén từ sức mạnh của lòng yêu nước vô bờ bến.

Đức tin từ đấng tối cao lòng lành hun đúc trong con người ông đã chuyển sang thành niềm tin tưởng mãnh liệt vào lý tưởng cách mạng.

Tình yêu vô bờ, say đắm, “yêu hết mọi cô gái trên đời” đã tạo thành sức mạnh đấu tranh để bảo vệ, gìn giữ cái đẹp - vừa thánh thiện, rực rỡ vừa sáng trong, tràn đầy sức sống, cần được chở che, trước mối họa xâm lăng.

Thơ tình của Trần Quang Long, chắc chắn sẽ còn sống mãi với thời gian, khi nào và với những ai, còn biết sống, biết yêu, biết cảm xúc như một con người. Rồi sẽ còn có nhiều người yêu nhau, hay hoài niệm về tình yêu thời tuổi trẻ của mình, đọc thơ ông, nói về ông...

PHẠM PHÚ PHONG













Home Icon VỀ TRANG CHỦ