Thương mại buôn bán nô lệ trong lịch sử loài người

Tác giả: Peter Frankopan/NXB Tri Thức-Omega Plus Books
Trái đất chuyển mình
Một cuốn sách đồ sộ bao trùm lịch sử trái đất, lịch sử nhân loại và lịch sử môi trường, khí hậu trong 4,5 tỷ năm, giúp độc giả hiểu hơn về quan hệ giữa con người và tự nhiên; được viết bởi GS lịch sử toàn cầu tại Đại học Oxford, Peter Frankopan.
Thương mại buôn bán nô lệ trong lịch sử loài người
Nhu cầu lớn về nô lệ được thúc đẩy bởi lợi nhuận khổng lồ có thể có được từ thuốc lá, bông, bột chàm và đường mía - những mặt hàng đòi hỏi nguồn nhân lực lớn.
Sự xâm nhập của người Anh vào vùng Caribe đã thiết lập nên nguyên tắc cho việc chinh phục và thuộc địa hoá, coi đó như là một phần thuộc tổ hợp kinh doanh của nhà nước. Không mất nhiều thời gian để các tổ chức mới thành lập có thể chính thức hoá hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Một trong những doanh nghiệp quan trọng nhất là Công ty Hoàng gia châu Phi (RAC), được thành lập vào năm 1660.
RAC có sự tương đồng rõ ràng với Công ty Đông Ấn (EIC) và Công ty Levant, cả hai công ty này đều đã được thành lập từ vài thập niên trước đó, RAC không lâu sau đã vượt ra ngoài lĩnh vực kim loại và cây trồng nông nghiệp để trở thành một công ty buôn bán nô lệ. Thực vậy, vào năm 1663, một điều lệ đã được Vua Charles II cấp cho RAC để công ty này được quyền “mua bán, chuyển nhượng và trao đổi bất kỳ nô lệ da đen, hàng hoá, vật dụng, đồ đạc nào, hay nói chung, tất cả những thứ gì được bán hoặc tìm thấy” ở Tây Phi.
Sự phát triển này đã có tác động mạnh mẽ đến các hệ sinh thái ở vùng Caribe, cũng như ở chính châu Mỹ và châu Phi. Các chuyến hàng chở nô lệ tăng mạnh, cao hơn gấp 10 lần trong thế kỷ 17 và lên tới hơn 80.000 nô lệ mỗi năm vào giữa thế kỷ 18. Đến năm 1680, buôn bán nô lệ chiếm tỷ lệ khoảng một nửa các giao dịch thương mại của châu Âu với châu Phi. Một thế kỷ sau, những năm 1780 có thể được coi là thập niên cao điểm của việc buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương khi có đến hơn 900.000 người được chuyển tới từ bờ biển châu Phi - chiếm hơn 90%.
Nhu cầu lớn về nô lệ được thúc đẩy bởi lợi nhuận khổng lồ có thể có được từ thuốc lá, bông, bột chàm và đường mía - những mặt hàng đòi hỏi nguồn nhân lực lớn để khai thác sản xuất. Tỷ suất sinh lời là vô cùng đáng kể và mỗi lúc một tăng nhanh.
Không những thế, người nô lệ phải hoàn trả phí nếu muốn chuộc chính mình trong vòng 18 tháng, “dưới sự ban phước của chúa trời”, như lời một du khách đến Caribe ở thời điểm ấy.

Con người từng bị buôn bán như một mặt hàng. Ảnh: Lacommunis.org.
Động cơ kiếm tiền cũng thúc đẩy sự thay đổi về kỹ thuật và chính trị. Hệ thống tàu thuyền đã được phát triển bằng cách gia cố và thiết kế đặc biệt hòng ngăn chặn các cuộc nổi dậy của những người nô lệ trong lúc đang bị vận chuyển qua Đại Tây Dương.
Các chủ tàu ở Anh đã nắm bắt cơ hội đầu tư vào việc đóng những con tàu lớn hơn, tốt hơn và nhanh hơn - và đương nhiên, một lượng lớn tàu đã được sản xuất. Trọng tải của những con tàu Anh đã tăng gấp bảy lần chỉ trong hơn một trăm năm sau 1570.
Trong khi người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha thống trị thương mại xuyên Đại Tây Dương, người Anh và sau đó là người liên hiệp Vương quốc Anh đã tạo lập được vị thế thống trị để trở thành quốc gia vận chuyển nô lệ lớn nhất cho đến nay, cụ thể là đã vận chuyển khoảng 2,5 triệu người vào thế kỷ 18, chiếm khoảng 40% tổng số nô lệ trên thế giới.
Người Hà Lan cũng nhanh chóng thức thời, nâng cấp cho tàu tăng gấp bốn lần tải trọng trong khoảng thời gian 1500-1700. Trong giai đoạn này, họ cũng tham gia vào việc buôn bán nô lệ đến mức một số người đương thời cho rằng họ đã “quản lý toàn bộ hoạt động buôn bán” ở các vùng thuộc địa phía tây Đại Tây Dương, cung cấp cho các hòn đảo như Barbados những mặt hàng như “người da đen, đồng, thiết bị chưng cất và tất cả những thứ khác liên quan đến máy móc phục vụ việc sản xuất đường mía”.
Những tiến bộ như vậy là đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của các đội tàu buôn cũng như của các lực lượng quân sự. Việc làm chủ các vùng biển của lực lượng hải quân sau này sẽ chứng tỏ nền tảng quyền lực của đế quốc và các đế chế toàn cầu - đáng chú ý nhất là Hải quân Hoàng gia.
Nhu cầu về thủy thủ vượt xa tốc độ tăng trưởng của dân số ở nước Anh nói riêng và Liên hiệp Vương quốc Anh nói chung, điều này cũng dẫn tới những sự chuyển đổi về tầm nhìn. Từng là một góc biệt lập của Bắc Âu, Quần đảo Anh giờ đây đã trở thành một trung tâm toàn cầu, nơi dân cư được tiếp xúc với các dân tộc, ngôn ngữ, hàng hóa và khí hậu ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới.
Thương mại đường dài là một phần của cái thường được gọi là hệ thống tam giác mà thông qua đó, các loại thành phẩm và hàng dệt may được vận chuyển từ châu Âu tới châu Phi để đổi lấy nô lệ; những nô lệ này, sau đó lại được vận chuyển qua đường Đại Tây Dương, trước khi các con tàu vòng về nhà, chở nặng đường mía, thuốc lá và bông.
Hoạt động giao thương này cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành thị trường bảo hiểm, và sự phát triển của thị trường này dựa vào khả năng định giá chính xác mức độ rủi ro. Khả năng này lại liên quan tới các phương thức tính toán cũng như sự đánh giá cẩn trọng rất nhiều yếu tố, từ năng lực và kinh nghiệm của thuyền trưởng, tuyến đường đi, tới giá trị của hàng hoá được vận chuyển - dù là người hay các mặt hàng khác.
Hoạt động giao thương này cũng mang lại nhiều hệ quả lâu dài như sự nổi lên của những thị trường tài chính và sự hình thành các trung tâm quyền lực về thương mại đã biến các thành phố như London và Amsterdam trở thành những siêu cường kinh tế.
Những sự tăng trưởng nhanh chóng như thế đã dẫn tới nhiều hậu quả khủng khiếp, đáng chú ý nhất là việc đẩy giá nô lệ xuống thấp. Chỉ trong hơn một thập niên sau năm 1664, giá thị trường trung bình ở thị trường Tây Ấn đã giảm 25-30%; và trong cùng thời gian ấy, nguồn cung đã tăng gấp đôi.
Nói cách khác, lao động cưỡng bức ngày càng trở nên rẻ mạt hơn, kích thích gia tăng thêm nhu cầu nô lệ. Theo thời gian, điều này còn làm thay đổi cả thái độ, làm chai cứng trái tim và khối óc của những kẻ chủ nô - những người đối xử với chính đồng loại của mình như thể họ là những món đồ dùng một lần.
Một chủ đồn điền vào giữa thế kỷ 18 từng nói, “Giá sẽ còn hời hơn nếu có thể vắt kiệt nô lệ tới mức tối đa”, “và với giá rẻ mạt nhưng tận dụng được tối đa, lũ nô lệ sẽ phải làm việc tới kiệt sức trước khi trở thành đồ bỏ đi; khi đó thì chỉ việc mua về những nô lệ mới để lấp bù chỗ trống”.
Peter Frankopan/NXB Tri Thức-Omega Plus Books