🔍
Chuyên mục: Thời sự

Thực thi CEDAW trong lĩnh vực chính trị: Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật để bảo đảm quyền tham chính của phụ nữ

2 giờ trước
Quyền tham chính của phụ nữ không chỉ là một mục tiêu xã hội, mà là nghĩa vụ pháp lý của Nhà nước trong việc thực thi Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) mà Việt Nam là thành viên. Việc Việt Nam bảo vệ thành công Báo cáo quốc gia lần thứ 9 trước Ủy ban CEDAW tại Genève đầu tháng 2/2026 một lần nữa khẳng định cam kết chính trị - pháp lý trong bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị tại Việt Nam.

Từ nghĩa vụ nội luật hóa đến kết quả thực thi quyền chính trị của phụ nữ

Điều 7 CEDAW quy định rõ: Các quốc gia thành viên phải bảo đảm phụ nữ được quyền bầu cử, ứng cử, tham gia hoạch định và thực thi chính sách công, đảm nhiệm các chức vụ trong cơ quan nhà nước và tổ chức công. Đây không chỉ là khuyến nghị, mà là nghĩa vụ ràng buộc.

Báo cáo phản biện “Thực thi Công ước CEDAW tại Việt Nam” của Hội LHPN Việt Nam mới đây nhất cho thấy về vấn đề phụ nữ tham gia đời sống chính trị và công cộng (thực thi Điều 7 Công ước CEDAW) cho thấy, Việt Nam đã cam kết nhất quán và rõ ràng về bình đẳng giới trong chính trị và khu vực công, thể hiện qua hệ thống nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng về công tác phụ nữ và cán bộ nữ.

Năm 2020, Chính phủ phê duyệt Chương trình “Tăng cường sự tham gia bình đẳng của phụ nữ trong các vị trí lãnh đạo và quản lý ở các cấp hoạch định chính sách giai đoạn 2021 - 2030”, tạo khung để đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch và phát triển nguồn nữ. Chính phủ phát huy vai trò của Hội LHPN các cấp trong tạo nguồn và nâng cao năng lực lãnh đạo cho cán bộ nữ. Hội đã đào tạo cho 125.618 lượt cán bộ nữ về nâng cao năng lực quản lý và kỹ năng lồng ghép giới trên toàn quốc (giai đoạn 2021 - 2024) và đào tạo chuyên sâu kỹ năng lãnh đạo cho 4.165 cán bộ nữ dân tộc thiểu số (giai đoạn 2022 - 2025)…

Ngày 3/2/2026, tại trụ sở Liên hợp quốc ở Genève, Đoàn đại biểu liên ngành Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thị Hà làm Trưởng đoàn đã thực hiện thành công Phiên bảo vệ Báo cáo quốc gia lần thứ 9 về thực thi Công ước CEDAW.

Điểm sáng trong báo cáo lần này chính là việc hiện thực hóa Hiến pháp thông qua các quy định luật pháp như Bộ luật Lao động 2019 với nhiều quy định tiến bộ thúc đẩy bình đẳng giới thực chất, Luật Bảo hiểm xã hội 2024 mở rộng diện bao phủ an sinh xã hội cho phụ nữ, hay Luật Đất đai 2024 thể hiện bước tiến quan trọng trong quản lý tài sản từ lăng kính giới. Đặc biệt, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022 đã thay đổi hoàn toàn tư duy khi lấy người bị bạo lực làm trung tâm, hỗ trợ nhóm đối tượng chịu ảnh hưởng chủ yếu là phụ nữ và trẻ em gái. Cùng với đó, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã mở rộng diện hỗ trợ miễn phí cho các nhóm phụ nữ yếu thế, từ hộ nghèo, người dân tộc thiểu số tại vùng đặc biệt khó khăn đến nạn nhân của bạo lực gia đình và mua bán người.

Việc lồng ghép bình đẳng giới không chỉ dừng lại ở các chính sách xã hội mà còn lan tỏa sang các lĩnh vực kinh tế và quản trị với Luật Ngân sách nhà nước 2025 khẳng định yêu cầu bảo đảm giới trong phân bổ nguồn lực quốc gia, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 không chỉ bảo đảm bình đẳng cơ hội kinh doanh mà còn ưu tiên nguồn lực cho các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ hoặc sử dụng nhiều lao động nữ hay Luật Dân số 2025 đánh dấu bước chuyển mình quan trọng theo hướng tôn trọng quyền con người và thúc đẩy quyền tự quyết của phụ nữ.

Cùng với kiện toàn hệ thống pháp luật, Chính phủ Việt Nam đã ban hành và triển khai đồng bộ các chiến lược, chương trình hành động về bình đẳng giới nhằm tăng cường quyền năng cho phụ nữ. Hệ thống chính sách này không chỉ xác lập mục tiêu rõ ràng mà còn hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành, tối ưu hóa nguồn lực và trách nhiệm thực thi, tạo nền tảng vững chắc để phụ nữ tiếp cận và thụ hưởng công bằng các thành quả xã hội.

Những nỗ lực nội tại bền bỉ đó đã mang lại những kết quả định lượng cụ thể, giúp Việt Nam khẳng định vị thế vững chắc trên trường quốc tế. Theo Báo cáo Khoảng cách giới toàn cầu năm 2025, Việt Nam đã có bước nhảy vọt khi đứng vị trí 74 trên 148 quốc gia, tăng 9 bậc so với năm 2022. Chỉ số Giới trong các Mục tiêu Phát triển Bền vững năm 2024 (SDG Gender Index 2024) ghi nhận Việt Nam đạt 71,2/100 điểm, xếp hạng 57/139 quốc gia. Sự ghi nhận này từ cộng đồng quốc tế càng có ý nghĩa hơn khi Việt Nam đang đảm nhiệm vai trò Thành viên Hội đồng chấp hành Cơ quan bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ của Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2025 - 2027.

Tại Phiên bảo vệ Báo cáo quốc gia lần thứ 9 về thực thi Công ước CEDAW ngày 3/2/2026, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thị Hà khẳng định Đại hội Đảng XIV tiếp tục nhấn mạnh ưu tiên phát triển nguồn nhân lực nữ và tăng cường tỷ lệ phụ nữ tham gia vào các cơ quan lãnh đạo các cấp, coi đây là một cam kết chính trị quan trọng của Đảng và Nhà nước Việt Nam nhằm xóa bỏ mọi rào cản còn tồn tại trong xã hội. Các Văn kiện Đại hội Đảng XIV chính là “kim chỉ nam” xác định tầm nhìn chiến lược cho giai đoạn phát triển mới, trong đó mục tiêu xây dựng một quốc gia thịnh vượng đi kèm với nền tảng công bằng và tiến bộ xã hội được đặt ở vị trí trung tâm.

Những “khoảng trống pháp lý” cần được khắc phục

Bên cạnh những thành tựu, thực tiễn cũng cho thấy, mặc dù Luật Bình đẳng giới đã quy định cấm phân biệt đối xử về giới, nhưng khái niệm “phân biệt đối xử gián tiếp” là nội dung được CEDAW nhấn mạnh trong Khuyến nghị chung số 25 chưa được nội luật hóa đầy đủ. Điều này khiến việc đánh giá tác động giới trong xây dựng pháp luật có xu hướng dừng lại ở mức “không có tác động trực tiếp”, mà bỏ qua những hệ quả bất lợi tiềm ẩn đối với phụ nữ. Nhìn từ góc độ cấu trúc quyền lực, có thể thấy tỷ lệ nữ giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt trong cơ quan hành pháp còn thấp, chủ yếu tập trung ở vị trí cấp phó. Điều này cho thấy quyền tham chính trên danh nghĩa chưa hoàn toàn chuyển hóa thành quyền lực thực chất…

Đoàn Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thị Hà
đã bảo vệ thành công Báo cáo quốc gia lần thứ 9 về thực thi CEDAW ngày 3/2/2026 tại Genève. (Nguồn: TTXVN)

Cụ thể, theo Báo cáo phản biện “Thực thi Công ước CEDAW tại Việt Nam của Hội LHPN Việt Nam” mới đây nhất, những vấn đề đã được chỉ ra như: tỷ lệ nữ lãnh đạo chưa cân đối giữa các khối lập pháp - hành pháp. Tỷ lệ nữ nắm giữ vị trí chủ chốt trong Chính phủ, các Bộ, UBND các cấp còn thấp và chủ yếu ở vị trí cấp phó. Chỉ số khoảng cách giới toàn cầu (GGI) giai đoạn 2015 - 2018 cho thấy Việt Nam xếp hạng dao động từ 49 (2016) đến 58 (2015) xét về phụ nữ trong Quốc hội nhưng xét về phụ nữ là Bộ trưởng thì Việt Nam dao động từ 117 (2016) đến 138 (2018) trong số gần 150 nước. Cuối năm 2023, Việt Nam chỉ có 4/30 nữ Bộ trưởng và tương đương (13,3%).

Một số chỉ tiêu về tỷ lệ nữ lãnh đạo trong các nghị quyết của Đảng, chương trình hành động quốc gia thiếu tính bắt buộc, thường sử dụng cụm từ “khuyến khích” nên không được coi như nhiệm vụ chính trị bắt buộc các cơ quan hữu trách phải có giải pháp quyết liệt tìm nguồn, đào tạo, bồi dưỡng và phát triển cán bộ nữ. Chênh lệch tuổi nghỉ hưu giữa phụ nữ và nam giới là 5 năm (cho đến hết năm 2020) đã tạo ra “khoảng trống” trong quy hoạch, khiến phụ nữ mất đi các cơ hội đào tạo chiến lược, được bổ nhiệm vào các vị trí cao hơn. Định kiến giới cho rằng nam giới có những tố chất phù hợp với vai trò lãnh đạo; nữ giới cần ưu tiên gia đình trước công việc vẫn tồn tại dai dẳng không chỉ trong trong tư duy của người làm công tác cán bộ mà cả ngay trong phụ nữ tạo ra mô hình “nam trưởng, nữ phó” ở rất nhiều cơ quan và địa phương…

Khuyến nghị được Báo cáo phản biện đưa ra là: áp dụng các biện pháp đặc biệt tạm thời để tăng tỷ lệ nữ trong đời sống chính trị thông qua giải pháp thực thi nguyên tắc “ưu tiên bổ nhiệm nữ” đối với các vị trí mà tỷ lệ nữ đang dưới 30% và cán bộ nữ đáp ứng các yêu cầu tối thiểu; không duyệt quy hoạch và cân nhắc chưa duyệt đề án nhân sự khi chưa bảo đảm tỷ lệ nữ.

Xây dựng và thực thi các chính sách hỗ trợ phụ nữ tham gia các chương trình đào tạo, bồi dưỡng khi đang mang thai và chăm sóc con nhỏ. Bảo đảm việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ không bị gián đoạn do nghỉ thai sản hoặc chăm sóc con nhỏ. Xây dựng mô hình “cơ quan thân thiện với phụ nữ”, trong đó phụ nữ có thể nuôi con bằng sữa mẹ, chăm sóc con nhỏ mà không bị chỉ trích hay đánh giá sai lệch về năng lực chuyên môn.

Tiếp tục đưa nội dung lồng ghép giới vào chương trình chính thức bồi dưỡng cán bộ, đặc biệt cán bộ cấp cao, cán bộ làm công tác nhân sự và thiết lập cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ nữ để theo dõi và hỗ trợ kịp thời cho các ứng viên tiềm năng. Khuyến khích các chương trình truyền thông lan tỏa hình ảnh tích cực của phụ nữ tham gia chính trị; các chương trình cố vấn chuyên môn (mentoring) giữa phụ nữ với phụ nữ.

Và một yêu cầu cấp thiết nữa là hoàn thiện pháp luật nhạy cảm giới. Trong bối cảnh Việt Nam đang chuẩn bị sửa đổi Luật Bình đẳng giới, cần xem xét các vấn đề như: nội luật hóa đầy đủ khái niệm phân biệt đối xử gián tiếp; quy định bắt buộc đánh giá tác động giới đối với mọi dự thảo luật, nghị định; thiết lập cơ chế giám sát độc lập việc lồng ghép giới trong chiến lược, quy hoạch và chương trình mục tiêu quốc gia; xây dựng bộ dữ liệu giới quốc gia phục vụ quản lý nhà nước.

Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI sẽ diễn ra vào ngày 15/3/2026. Ngày 14/2/2026, thay mặt Hội đồng Bầu cử quốc gia, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn - Chủ tịch Hội đồng Bầu cử quốc gia đã ký ban hành Nghị quyết số 151/NQ-HĐBCQG công bố danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI theo từng đơn vị trong cả nước. Theo đó, có 864 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI tại 182 đơn vị bầu cử trong cả nước để bầu 500 đại biểu Quốc hội khóa XVI. Trong số 864 người, có 472 người là nam, chiếm tỷ lệ 54,63%, có 392 người là nữ, chiếm 45,37%.

Hoa Bùi - Hương Giang

TIN LIÊN QUAN























Home Icon VỀ TRANG CHỦ