Thực hiện Nghị quyết 80: Khai thác mỏ vàng từ công nghiệp văn hóa

Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, từng bước hình thành ngành kinh tế văn hóa có đóng góp ngày càng lớn cho tăng trưởng.
Đây là bước chuyển quan trọng về tư duy, khi văn hóa không chỉ là lĩnh vực được đầu tư bằng ngân sách mà còn là nguồn lực tạo ra của cải. Cuối năm 2025 và đầu năm 2026, thị trường giải trí chứng kiến làn sóng bùng nổ của các chương trình âm nhạc quy mô lớn.
Nhiều khởi sắc
Công nghiệp văn hóa là sự kết hợp sáng tạo nghệ thuật với kinh doanh, tạo ra giá trị gia tăng từ nội dung văn hóa. Từ các concert “cháy vé”, phim trăm tỉ đến nội dung số và trò chơi điện tử, công nghiệp văn hóa đang dần khẳng định vai trò là lĩnh vực tạo giá trị kinh tế cao tại Việt Nam.
Tuy nhiên, để phát triển tương xứng với tiềm năng, lĩnh vực này cần những "cú hích" rõ nét hơn.

Tiết mục Trống cơm của NSND Tự Long, Soobin Hoàng Sơn và Cường Seven trong concert “Anh trai vượt ngàn chông gai”. Ảnh: BTC
Chuỗi concert “Anh trai say hi”, “Anh trai vượt ngàn chông gai” liên tục cháy vé, mỗi đêm thu hút hàng chục nghìn khán giả, kéo theo nhu cầu lưu trú, vận tải và dịch vụ. Theo các doanh nghiệp tổ chức sự kiện, doanh thu một chương trình không chỉ đến từ bán vé mà còn từ tài trợ, quảng cáo, vật phẩm và khai thác nội dung trên nền tảng số.
Nếu được tổ chức bài bản, một concert có thể mang về doanh thu từ hàng chục đến hàng trăm tỉ đồng. Lễ hội âm nhạc quốc tế Hò Dô tại TP.HCM cũng cho thấy tiềm năng kết hợp giữa văn hóa và du lịch, góp phần định vị hình ảnh đô thị trẻ, năng động và tạo sức lan tỏa sang các ngành dịch vụ.
Ở lĩnh vực điện ảnh gần đây đã ghi nhận sự bứt phá của phim Việt tại phòng vé. Một số tác phẩm đạt doanh thu cao, trong đó “Mưa đỏ” dẫn đầu với khoảng 714 tỉ đồng; nhiều phim khác cũng vượt mốc 200 tỉ đồng.

Khán giả là người làm nên thành công cho "Mưa đỏ", doanh thu của phim đạt khoảng 714 tỉ đồng. Ảnh: ĐPCC
Tổng doanh thu phòng vé năm 2025 đạt hơn 6.000 tỉ đồng, trong đó phim Việt chiếm hơn 60% thị phần. Không chỉ mang lại doanh thu trực tiếp, điện ảnh còn góp phần quảng bá hình ảnh địa phương và thúc đẩy du lịch.
Bên cạnh điện ảnh và âm nhạc, các lĩnh vực như quảng cáo, thiết kế, thời trang, mỹ thuật, trò chơi điện tử, nội dung số… đang từng bước hình thành hệ sinh thái công nghiệp văn hóa.
Đáng chú ý, trò chơi điện tử và nội dung số nổi lên như “mỏ vàng” mới khi nhiều doanh nghiệp Việt đã tham gia sản xuất, phát hành sản phẩm ra thị trường quốc tế.

Hình ảnh trong chương trình Âm vang Tổ quốc thu hút 40.000 khán giả tham gia. Ảnh: TUẤN HUY
Trong khi khu vực công giữ vai trò định hướng, phần lớn sản phẩm văn hóa thành công hiện nay đến từ khu vực tư nhân. Từ các nhà sản xuất phim, công ty tổ chức biểu diễn đến doanh nghiệp công nghệ, khu vực này đang tạo sức sống cho thị trường với khả năng chấp nhận rủi ro và nhạy bén với nhu cầu khán giả.
Trong thời gian qua, giá trị sản xuất của ngành công nghiệp văn hóa (CNVH) tại TP.HCM tăng mạnh từ mức tỉ trọng 3,54% tổng GRDP năm 2020 lên 5,7% tổng GRDP vào năm 2025, khẳng định vai trò ngày càng lớn của ngành công nghiệp văn hóa trong cơ cấu kinh tế của đô thị.
Năm 2024, TP.HCM tổ chức Liên hoan phim quốc tế lần thứ nhất (HIFF), quy tụ đông đảo khách mời quốc tế, cho thấy năng lực hội nhập ngày càng rõ nét.
Hiện TP.HCM có hàng chục nghìn doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, với lực lượng lao động lớn. Một số lĩnh vực có mức xã hội hóa cao như quảng cáo, trong đó phần lớn là doanh nghiệp ngoài nhà nước.
Cần chuỗi giá trị từ sáng tạo đến phân phối và xuất khẩu
Dù có nhiều tín hiệu tích cực, công nghiệp văn hóa vẫn còn đang cần một hệ sinh thái rõ nét hơn cho lĩnh vực này.

TS Hà Thanh Vân, Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam (COPAC). Ảnh: VĂN HÀ
TS Hà Thanh Vân, Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam (COPAC), cho rằng công nghiệp văn hóa vẫn thiếu một hệ sinh thái hoàn chỉnh. Nhiều lĩnh vực mới dừng ở các điểm sáng riêng lẻ, chưa hình thành chuỗi giá trị an toàn, hiệu quả từ sáng tạo đến phân phối và xuất khẩu.
“Khung chính sách chưa theo kịp đặc thù sáng tạo, doanh nghiệp hạn chế về vốn và hạ tầng” - TS Hà Thanh Vân nhìn nhận.
Bên cạnh đó, hạ tầng sáng tạo và nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu, vẫn còn tình trạng xâm phạm bản quyền trên môi trường số, trong khi hiệu quả thực thi pháp luật chưa cao.
Các chuyên gia cho rằng cần hoàn thiện khung pháp lý phù hợp với môi trường số, tăng cường bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời ứng dụng công nghệ trong giám sát và thực thi. Những trường vi phạm bản quyền bị xử lý gần đây là một tín hiệu tốt.
Cùng với đó, cần chuyển từ tư duy quản lý sang phát triển thị trường văn hóa, với các chính sách đặc thù nhằm “nuôi ngành”, bao gồm cơ chế về vốn, thuế, đầu tư và hợp tác công - tư.
Ở góc độ người làm nghề, NSƯT Lam Tuyền cho rằng yếu tố cốt lõi vẫn là con người sáng tạo. Nghệ sĩ cần không ngừng học tập, đổi mới và chủ động tham gia thị trường để mỗi sản phẩm không chỉ mang giá trị tinh thần mà còn tạo ra giá trị kinh tế.
TS Nguyễn Thị Thu Phương, Viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam (Bộ VH-TT&DL) cho rằng, Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị thể hiện đột phá thể chế lớn nhất là chuyển từ tư duy "quản lý văn hóa" sang tư duy "kiến tạo hệ sinh thái văn hóa - sáng tạo".

Tại Việt Nam ngày càng có nhiều chương trình biểu diễn quy mô. Ảnh: TUẤN HUY
Nhà nước không chỉ làm nhiệm vụ quản lý, cấp phép, bảo tồn, mà phải kiến tạo thị trường, phát triển hạ tầng mềm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hoàn thiện cơ chế đầu tư, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và thúc đẩy liên kết liên ngành, liên vùng, để các chủ thể sáng tạo có thể phát triển.
Khi tư duy chuyển đổi như vậy, chúng ta có quyền hy vọng công nghiệp văn hóa có thể chuyển từ manh mún sang hệ sinh thái; từ hoạt động đơn lẻ sang chuỗi giá trị; từ "làm sự kiện" sang "phát triển ngành".
VIẾT THỊNH - HẢI NHI
5 ngày trước
12 ngày trước
27 phút trước
11 phút trước
2 giờ trước
6 phút trước
7 phút trước
11 phút trước
11 phút trước
13 phút trước
14 phút trước
14 phút trước
14 phút trước
15 phút trước