🔍
Chuyên mục: Công nghệ

Thực hiện Nghị quyết 57/NQ-TW: Vai trò của nhà mạng thế hệ mới trong phát triển hạ tầng số

1 giờ trước
Trong bối cảnh kinh tế số tăng nhanh, viễn thông không chỉ là hạ tầng kết nối, mà còn là hạ tầng số phục vụ hoạt động của doanh nghiệp và xã hội, góp phần tạo động lực tăng trưởng mới cho đất nước.

Làm chủ hạ tầng số

VNPT tập trung vào 3 trụ cột chiến lược. Ảnh: VinaPhone

Cùng với quá trình chuyển đổi số quốc gia, vai trò của nhà mạng viễn thông đã có sự chuyển dịch căn bản. Nhà mạng không chỉ cung cấp các dịch vụ kết nối truyền thống mà đã trở thành lực lượng chủ lực xây dựng, cung cấp các hạ tầng số toàn diện, tạo nền tảng cho kinh tế số, quản lý xã hội và cung cấp các dịch vụ công trên không gian số.

Chia sẻ về vai trò của nhà mạng viễn thông thế hệ mới, ông Tô Dũng Thái, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) nhấn mạnh, nhà mạng viễn thông thế hệ mới không còn được đo đếm bằng số thuê bao hay băng thông, mà được định nghĩa bởi năng lực làm chủ hạ tầng số, dữ liệu, công nghệ lõi và vai trò điều phối hệ sinh thái số của cả quốc gia.

Với VNPT, 3 trụ cột chiến lược được tập trung triển khai gồm: Tái định nghĩa và làm chủ hạ tầng số thông minh; dữ liệu và công nghệ lõi; tiên phong trong kết nối hệ sinh thái số quốc gia.

Hệ sinh thái Open Ran do Viettel và Qualcomm hợp tác phát triển, được trưng bày tại sự kiện MWC 2026. Ảnh: V.T

Cùng với các trụ cột này, VNPT đang xây dựng hạ tầng điện toán đám mây đạt chuẩn Tier III, IV để cung cấp dịch vụ cho Chính phủ số và doanh nghiệp số. VNPT cũng đang đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng AI, xây dựng các trung tâm dữ liệu AI kết hợp cụm GPU và chip AI chuyên dụng để cung cấp AI như một dịch vụ cho bài toán nhận dạng, phân tích dữ liệu lớn của quốc gia.

Về vai trò của nhà mạng viễn thông thế hệ mới trong phát triển hạ tầng số, ông Cao Anh Sơn, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Viettel cho biết, Viettel đã đưa vào vận hành gần 30.000 trạm 5G. Ngoài ra, Viettel đóng vai trò then chốt trong kết nối Việt Nam với thế giới thông qua 5 tuyến cáp quang biển quốc tế, với tổng dung lượng khoảng 64 Tbps (chiếm 60% thị phần kết nối data quốc tế).

Không chỉ dẫn đầu trong lĩnh vực viễn thông, Viettel còn tiên phong xây dựng hạ tầng số quốc gia với 15 trung tâm dữ liệu đạt chuẩn quốc tế, quy mô trên 11.000 rack. Viettel đã khởi công 3 trung tâm dữ liệu tại Hòa Lạc và An Khánh ở Hà Nội, Tân Phú Trung (thành phố Hồ Chí Minh). Viettel đặt ra mục tiêu đến năm 2030 mở rộng lên khoảng 24 trung tâm dữ liệu, với tổng công suất khoảng 560 MW.

Về phát triển khoa học công nghệ, Viettel đặt mục tiêu đến năm 2030 làm chủ toàn bộ khâu thiết kế, sản xuất các sản phẩm chip phục vụ cho quốc phòng, an ninh; phát triển một số loại chip chuyên dụng thế hệ mới có tính đột phá như chip trí tuệ nhân tạo và chip IoT.

Song song với mục tiêu này, Viettel sẽ đưa vào vận hành nhà máy sản xuất bán dẫn công nghệ cao (vừa khởi công tháng 1-2026) từng bước tham gia sâu vào chuỗi giá trị bán dẫn, góp phần nâng cao năng lực tự chủ công nghệ cao và đảm bảo an ninh, chủ quyền số quốc gia.

Đánh giá về hạ tầng số, Bộ Khoa học và Công nghệ nhận định, Việt Nam đã bứt phá cả về tốc độ, quy mô và độ bao phủ. Internet băng rộng cố định đạt tốc độ 280 Mbps, xếp hạng 11 thế giới, tăng 49 bậc so với vài năm trước; internet băng rộng di động đạt tốc độ 160 Mbps, xếp hạng 17 thế giới. Hạ tầng 4G đã phủ sóng 99,48% dân số, vùng phủ 5G từ 0,93% năm 2023 lên 90,2% năm 2025 và số trạm 5G từ 184 lên hơn 35.000 trạm.

Trở thành nhà cung cấp năng lực số trọn gói

Trung tâm dữ liệu thành phố Hà Nội đặt tại VNPT Hòa Lạc. Ảnh: VNPT

Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã nhấn mạnh yêu cầu phát triển hạ tầng công nghệ số hiện đại, dung lượng siêu lớn, băng thông siêu rộng; đồng thời làm chủ các công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, internet vạn vật, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và công nghiệp bán dẫn hay là các công nghệ lõi.

Cụ thể hóa các chủ trương lớn, Chính phủ đã triển khai các nghị quyết, kế hoạch, trong đó, hạ tầng số được xác định là hạ tầng của nền kinh tế, giữ vai trò nền tảng cho phát triển kinh tế số, chính phủ số và xã hội số.

Thông tin từ Cục Viễn thông (Bộ Khoa học và Công nghệ), trong giai đoạn 2026-2030, viễn thông sẽ kiến tạo phát triển hạ tầng số hiện đại, băng thông siêu rộng, dung lượng siêu lớn. Riêng năm 2026, các doanh nghiệp đưa hạ tầng số Việt Nam ngang tầm các nước tiên tiến, với tốc độ di động đạt 170 Mbps, cố định đạt 300 Mbps, 99% dân số phủ sóng 5G, 40% người dân có thể truy cập băng rộng 1Gbps.

Theo Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng, Việt Nam đã xác lập mục tiêu phát triển có tầm nhìn dài hạn và đầy thách thức. Trong vòng 20 năm tới, quy mô GDP sẽ tăng khoảng 5 lần, đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao. Như vậy, ngành Viễn thông đang đứng trước một ngã rẽ mang tính chiến lược.

Nhà mạng phải chuyển đổi từ doanh nghiệp viễn thông truyền thống sang doanh nghiệp hạ tầng số. Viễn thông không chỉ là hạ tầng kết nối, mà phải trở thành hạ tầng năng lực số của nền kinh tế.

Doanh nghiệp không chỉ bán băng thông, mà phải cung cấp các gói dịch vụ số hoàn chỉnh, gồm điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu (data), an toàn - an ninh mạng, internet vạn vật (IoT) và các nền tảng số. Đây là hạ tầng đầu vào thiết yếu cho doanh nghiệp và xã hội trong kỷ nguyên số.

Phối cảnh nhà máy sản xuất chip của Viettel tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc. Ảnh: V.T

Về giải pháp phát triển, ông Cao Anh Sơn cho biết, theo Nghị quyết 57/NQ-TW, đến năm 2030, tỷ lệ chi nghiên cứu và phát triển (R&D) nâng lên mức 2% GDP, tương đương khoảng 9 tỷ USD/năm. Viettel kiến nghị Chính phủ sớm ban hành các hướng dẫn cụ thể nhằm bảo đảm việc phân bổ, sử dụng hiệu quả nguồn ngân sách này, với hướng ưu tiên cho các chương trình, dự án nghiên cứu công nghệ nền tảng, bao trùm, như công nghiệp bán dẫn, công nghệ vệ tinh tầm thấp, các công nghệ lưỡng dụng phục vụ cho quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế.

Viettel đề xuất cơ chế đặc biệt trong việc tiếp cận, nghiên cứu và mua các công nghệ tiên tiến, công nghệ lõi của nước ngoài. Hiện có một số vướng mắc lớn trong đánh giá và xác định giá trị các công nghệ mang tính bí mật, độc quyền, khó tham chiếu và so sánh trên thị trường. Khi có hướng dẫn về nguyên tắc, phương pháp đánh giá và xác định giá trị công nghệ trong quá trình chuyển giao, tạo hành lang pháp lý rõ ràng, minh bạch, doanh nghiệp sẽ mạnh dạn đầu tư, tiếp nhận, làm chủ các công nghệ của nước ngoài.

Bên cạnh đó, Chính phủ sớm ban hành cơ chế vận hành quỹ đầu tư phát triển công nghiệp chiến lược theo Nghị quyết 57-NQ/TW, trong đó ưu tiên đầu tư cho các lĩnh vực then chốt như quốc phòng, không gian, năng lượng, trí tuệ nhân tạo, thông tin tín hiệu đường sắt, để kịp thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm.

Việt Nga














Home Icon VỀ TRANG CHỦ